Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương II: Cơ sở lý luận về nhập khẩu và nâng cao hiệu quả nhập khẩu Chương III: Đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu thiết bị y tế từ thị trường Nhật Bản của công ty TNHH Bách Kỳ Phương Chương IV: Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị y tế của công ty TNHH Bách Kỳ Phương. 12 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU 2. Cơ sở lý thuyết về nhập khẩu 2. Khái niệm nhập khẩu Nhập khẩu là một công cụ của thương mại quốc tế.
Nhập khẩu có thể được hiểu đơn giản là hành vi mua bán hàng hóa, nguyên vật liệu giữa cá nhân, tổ chức của một quốc gia này với cá nhân, tổ chức của một quốc gia khác. Hay theo định nghĩa từ Khoản 2, Điều 28 của Luật Thương mại 2005 do Quốc hội ban hành ngày 14/06/2005 đã đưa ra định nghĩa như sau: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo định nghĩa được đăng tải trên Wikipedia thì: “Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ làm môi giới. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài.” Tóm lại, nhập khẩu là hoạt động dùng ngoại tệ để trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho hoạt động sản xuất, tiêu dùng trong nước hoặc tái xuất khẩu để thu lợi nhuận. Các chủ thể tham gia hoạt động nhập khẩu có thể là cá nhân, tổ chức.
Các hình thức nhập khẩu a. Nhập khẩu trực tiếp Theo hình thức này, người mua và người bán hàng hóa giao dịch trực tiếp với nhau, quá trình mua bán không ràng buộc lẫn nhau. Người mua có thể mua mà không bán và ngược lại. Nhập khẩu trực tiếp được tiến hành khá đơn giản.
Đặc biệt, bên nhập khẩu muốn ký kết hợp đồng kinh doanh nhập khẩu cần nghiên cứu thị trường, tìm đối 13 tác phù hợp, ký kết và thực hiện hợp đồng, tự túc kinh phí, chịu mọi rủi ro và chi phí trong quá trình này. Nhập khẩu ủy thác Nhập khẩu uỷ thác được định nghĩa là hoạt động dịch vụ thương mại theo đó chủ doanh nghiệp thuê một đơn vị trung gian đại diện và đứng tên nhập khẩu hàng hoá thông qua hình thức uỷ thác. Nói một cách dễ hiểu là, nếu doanh nghiệp trong nước có nguồn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một loại hàng hoá nào đó, nhưng do không được phép nhập khẩu chính ngạch, hay gặp vướng mắc trong việc đàm phán với đối tác nước ngoài họ sẽ thuê những doanh nghiệp có chức năng thương mại quốc tế để nhập khẩu giúp mình. Trường hợp người nhập khẩu là cá nhân không có đăng ký kinh doanh/hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam là không đủ điều kiện nhập khẩu hàng hoá (đứng tên trên tờ khai hải quan) thì họ sẽ thuê dịch vụ nhập khẩu uỷ thác hoặc đứng tên trên tờ khai hải quan.
Trách nhiệm của bên nhận uỷ thác là phải thu thập thông tin về thị trường, giá cả, đối tác, những yêu cầu có liên quan đến lô hàng cần uỷ thác để ký hợp đồng và làm các thủ tục liên quan đến nhập khẩu. Với phương thức trên, doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu uỷ thác không phải đầu tư vốn, không cần xin hạn ngạch cũng như không phải tìm đối tác, giá cả. Đổi lại bên uỷ thác sẽ thanh toán chi phí dịch vụ cho bên nhận uỷ thác nhập khẩu. Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu có thể được xem là một phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế và được áp dụng phổ biến trong các giao dịch mua bán với chính phủ những nước đang phát triển.
Hàng hoá và dịch vụ được đổi bằng hàng hoá và dịch vụ khác có giá trị tương đương. Trong phương thức này, chỉ với 1 hợp đồng doanh nghiệp có thể tiến hành song song được hai hoạt động trọng điểm là xuất khẩu và nhập khẩu. Lượng hàng hoá giao đi 14 và hàng nhận về có giá trị bằng nhau. Do đó, doanh nghiệp xuất khẩu được tính vào cả kim ngạch xuất khẩu và doanh thu trên hàng hoá nhập khẩu.
Tạm nhập tái xuất Tạm nhập tái xuất là hình thức thương nhân Việt Nam tạm nhập hàng hóa vào Việt Nam, sau đó xuất khẩu chính hàng hóa đó từ Việt Nam sang nước khác. Thông qua phương thức này, hàng hóa được nhập khẩu nhưng không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu sang nước thứ ba để kiếm lời. Hoạt động kinh doanh này bao gồm cả nhập khẩu và xuất khẩu với mục tiêu thu lại một lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn đầu tư ban đầu. Khi tiến hành tạm nhập tái xuất, doanh nghiệp cần tiến hành đồng thời hai hợp đồng riêng biệt, gồm: hợp đồng mua hàng ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng ký với thương nhân nước nhập khẩu.
Nhập khẩu gia công Là hình thức mà bên nhận gia công của Việt Nam nhập khẩu nguyên vật liệu từ người thuê gia công ở nước ngoài, theo hợp đồng gia công đã ký kết. Chẳng hạn như doanh nghiệp dệt may, giày da của Việt Nam nhập nguyên phụ liệu từ Mỹ để sản xuất hàng gia công cho đối tác Mỹ. Đặc điểm của nhập khẩu Nhập khẩu có một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, thị trường nhập khẩu rất đa dạng. Hàng hoá và dịch vụ có thể được nhập khẩu từ nhiều quốc gia khác nhau.
Dựa vào lợi thế so sánh của mỗi quốc gia khác nhau mà các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để mở rộng, thu hẹp hay thay đổi thị trường nhập khẩu của mình. Nguồn cung đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp rất đa dạng, thường xuyên thay đổi theo nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. Nguồn cung ứng hoặc đầu ra có thể ổn định, tập trung hoặc đa dạng phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh của công ty, khả năng thích nghi và đáp ứng cầu thị trường cũng như biến động của nguồn cung ứng. 15 Thứ hai, phương thức thanh toán: Trong kinh doanh nhập khẩu các bên sử dụng nhiều phương thức thanh toán , việc sử dụng phương thức thanh toán nào là do hai bên tự thỏa thuận được quy định trong điều khoản của hợp đồng và trong kinh doanh nhập khẩu thường sử dụng các ngoại tệ mạnh chủ yếu là USD để thanh toán.
Vì vậy mà thanh toán trong nhập khẩu phụ thuộc rất lớn vào tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền nội tệ và ngoại tệ. Thứ ba, nhập khẩu chịu sự chi phối của nhiều hệ thống luật pháp, thủ tục. Hoạt động nhập khẩu có sự tham gia của nhiều đối tác có quốc tịch khác nhau nên chịu sự chi phối bởi các hệ thống luật pháp và các thủ tục liên quan của nhiều nước khác nhau. Thứ tư, việc trao đổi thông tin với đối tác phải được tiến hành nhanh chóng thông qua các phương tiện công nghệ hiện đại hơn như Telex, Fax.
Đặc biệt trong thời đại thông tin hiện nay giao dịch qua thư điện tử, qua hệ thống mạng internet hiện đại là công cụ phục vụ đắc lực cho kinh doanh. Thứ năm, về phương thức vận chuyển: Hoạt động nhập khẩu liên quan trực tiếp đến yếu tố nước ngoài, hàng hóa được vận chuyển qua biên giới các quốc gia, có khối lượng lớn và được vận chuyển qua đường biển, đường hàng không, đường sắt và vận chuyển vào nội bộ bằng các xe có trọng tải lớn. Do đó hoạt động nhập khẩu đòi hỏi chi phí vận chuyển lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của nhập khẩu a.
Vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế Thứ nhất, nhập khẩu sẽ bổ xung kịp thời những hàng hoá còn thiếu mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ tiêu dùng làm cân đối kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững, khai thác tối đa khả năng và tiềm năng của nền kinh tế. Thứ hai, nhập khẩu làm đa dạng hóa hàng tiêu dùng trong nước, phong phú chủng loại hàng hoá, mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức sống của người dân. Thứ ba, nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền toàn khu vực và trên thế giới, xóa bỏ nền kinh tế lạc hậu tự cung, tự cấp. Tiến tới sự hợp tác giữa các quốc gia là cầu nối 16 thông suốt của nền kinh tế tiên tiến trong và ngoài nước, tạo lợi thế để phát huy lợi thế so sánh trên cơ sở công nghiệp hóa.
Thứ tư, nhập khẩu sẽ thúc đẩy sản xuất trong nước không ngừng vươn lên, không ngừng tìm tòi nghiên cứu để sản xuất ra hàng hoá có chất lượng cao, đảm bảo, tăng cường sức cạnh tranh với hàng ngoại. Thứ năm, nhập khẩu sẽ tạo ra quá trình chuyển giao công nghệ, điều này tạo ra sự phát triển vượt bậc của nền sản xuất hàng hoá, tạo ra sự cân bằng giữa các quốc gia về trình độ sản xuất, tiết kiệm chi phí và thời gian. Vai trò của nhập khẩu đối với doanh nghiệp Đầu tiên, thông qua hoạt động nhập khẩu, các sản phẩm ngoại nhập có chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, có tính cạnh tranh cao tham gia vào thị trường nội địa buộc doanh nghiệp sản xuất trong nước phải không ngừng đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, dịch vụ sản phẩm và hạ giá thành để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa. Điều này đồng thời cũng làm cho hiệu quả sản xuất được nâng cao, người lao động tìm được việc làm, đời sống được cải thiện.
Thứ hai, nhập khẩu giúp làm nâng cao năng lực chuyên môn của các thành viên trong doanh nghiệp nhập khẩu bởi hoạt động động này diễn ra trên phạm vi quốc tế, có sự giao lưu của nhiều nền kinh tế khác nhau về chính trị, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán… Do đó, các doanh nghiệp nhập khẩu buộc phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị, các cán bộ, các cá nhân trong doanh nghiệp luôn luôn phải học hỏi kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ để hoàn thành tốt công việc của mình.