Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nhập khẩu và nâng cao hiệu quả nhập khẩu đối với doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng hiệu quả nhập khẩu mặt hàng mặt hàng thiết bị máy nông nghiệp từ Trung Quốc của công ty CP XNK Hòa Thắng Chương 4: Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu mặt hàng thiết bị máy nông nghiệp từ Trung Quốc của công ty CP XNK Hòa Thắng 13 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 2.1 Cơ sở lý luận về nhập khẩu 2.1 Khái niệm về nhập khẩu Khái niệm về nhập khẩu Theo quy định tại Điều 28 Luật Thương mại 2005 về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cụ thể như sau: Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Theo thư viện Học liệu mở Việt Nam (VOER), Nhập khẩu là khâu cơ bản của hoạt động ngoại thương. Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán diễn ra trên phạm vi toàn thế giới. Nhập khẩu không chỉ là hoạt động buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có tổ chức bên trong và bên ngoài.
Nhập khẩu là thể hiện sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, đặc biệt trong tình hình thế giới hiện nay xu hướng liên kết toàn cầu và khu vực làm cho mức độ ảnh hưởng, tác động của từng quốc gia đối với nhau và của từng khu vực kinh tế thế giới ngày một tăng. Hoạt động nhập khẩu là hoạt động buôn bán giữa các quốc gia, vì vậy nó phức tạp hơn mua bán trong nước: Mua bán trung gian chiếm tỷ trọng lớn; đồng tiền thanh toán là ngoại tệ, thường là ngoại tệ mạnh; hàng hoá phải chuyển qua biên giới, cửa khẩu của quốc gia khác; hoạt động buôn bán phải tuân theo những tập quán, thông lệ quốc tế cũng như địa phương. Do đó, nhập khẩu của doanh nghiệp là hoạt động mua hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái xuất nhằm phục vụ mục đích thu lợi nhuận. Vậy bản chất của nhập khẩu là việc mua hàng hóa từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu tại thị trường nội địa hoặc tái xuất khẩu với mục đích thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với tiêu dùng.2 Đặc điểm của nhập khẩu Nhập khẩu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia, đảm bảo sự phát triển ổn định của những ngành kinh tế mũi nhọn mỗi nước đồng thời khai thác triệt để để lợi thế so sánh của quốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hóa cao trong lao động và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Hoạt động nhập khẩu có những đặc điểm sau: Thứ nhất, thị trường nhập khẩu rất đa dạng: Hàng hóa và dịch vụ có thể nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau. Dựa trên lợi thế so sánh: Lợi thế so sánh của mỗi quốc gia khác nhau mà các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để mở rộng, thu hẹp hay đổi thị trường nhập khẩu của mình. Lợi ích thu được hay chi phí bỏ ra khi nhập khẩu từ các thị trường khác nhau còn dựa trên tương quan về vị trí địa lý của hai nước, chất lượng nhân công, khả năng sản xuất,. Đầu vào ( nguồn cung ứng trong đó có nguồn nhập khẩu), đầu ra ( khách hàng) của doanh nghiệp rất đa dạng thường thay đổi theo nhu cầu tiêu dùng của người trong nước.
Nguồn cung ứng và đầu ra có thể ổn định, tập trung hoặc đa dạng phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh của công ty, khả năng thích nghi và đáp ứng nhu cầu thị trường cũng như biến động của nguồn cung ứng Thứ hai, chịu chi phối bởi nhiều hệ thống pháp luật, thủ tục: Hoạt động nhập khẩu có sự tham gia của nhiều đối tác có quốc tịch khác nhau nên chịu sự chi phối bởi hệ thống pháp luật và thủ tục liên quan của nhiều nước khác nhau. Do đó, khi tham gia kinh doanh nhập khẩu, mỗi doanh nghiệp cần nắm rõ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu để tránh những tranh chấp phát sinh. Thứ ba, phương thức thanh toán: Trong kinh doanh nhập khẩu, các bên sử dụng nhiều phương thức thanh toán, việc sử dụng phương thức thanh toán nào là do hai bên tự thỏa thuận được quy định trong điều khoản hợp đồng, có thể là nhờ thu, hàng đổi hàng,L/C,. và trong kinh doanh nhập khẩu thường sử dụng ngoại tệ mạnh chủ yếu là USD để thanh toán.
Vì vậy mà thanh toán trong nhập khẩu phụ thuộc rất lớn và tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền nội tệ (VND) và ngoại tệ. Có nhiều phương thức khác nhau được sử dụng trong hoạt động thanh toán nhập khẩu: phương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền, phương thức tín dụng chứng từ,. 15 Thứ tư, về phương thức vận chuyển: Hoạt động nhập khẩu liên quan trực tiếp đến yếu tố nước ngoài, hàng hóa được vận chuyển qua các biên giới quốc gia, có khối lượng lớn và được vận chuyển qua đường biển, đường hàng không, đường sắt và vận chuyển vào nội bộ bằng các xe có trọng tải lớn… Vậy nên hoạt động nhập khẩu đòi hỏi chi phí vận chuyển lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Các phương thức giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế rất phong phú: Giao dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch tại hội chợ triển lãm.
Điều kiện cơ sở giao hàng: có nhiều hình thức nhưng phổ biến là các điều kiện CIF, FOB, CFR,.3 Các hình thức nhập khẩu Nhập khẩu hàng hoá – một hoạt động cơ bản của kinh doanh thương mại quốc tế trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu chỉ được tiến hành ở các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, nhưng trong thực tế do tác động của môi trường, điều kiện kinh doanh cùng với sự năng động sáng tạo của người kinh doanh đã tạo ra nhiều hình thức nhập khẩu khác nhau. Thứ nhất, nhập khẩu trực tiếp, Theo cách thức bên mua và bên bán trao đổi trực tiếp với nhau, bên bán có thể chỉ bán mà không mua. Hoạt động chủ yếu là doanh nghiệp trong nước.
Để tiến tới ký kết hợp đồng kinh doanh nhập khẩu thì doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ nhu cầu trên thị trường nội địa tính toán đầy đủ chi phí kinh doanh nhập khẩu có hiệu quả. Bên cạnh đó cũng phải đàm phán kỹ và rõ ràng về các điều kiện giao dịch với bên xuất khẩu, thực hiện theo đúng hàng lang pháp lý và thông lệ của từng quốc gia. Nhập khẩu trực tiếp có đặc điểm là được tiến hành một cách đơn giản. Bên nhập khẩu phải nghiên cứu kỹ thị trường tìm đối tác, ký kết hợp đồng và thực hiện theo đúng hợp đồng, phải tự bỏ vốn, chịu mọi rủi ro và chi phí giao dịch, nghiên cứu, giao nhận, kho bãi cùng với các chi phí liên quan.
16 Thứ hai, nhập khẩu ủy thác, Nhập khẩu ủy thác là hoạt động dịch vụ thương mại dưới hình thức nhận làm dịch vụ nhập khẩu. Hoạt động này được làm trên cơ sở hợp đồng ủy thác giữa các doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu một số mặt hàng song không có quyền tham gia vào quan hệ nhập khẩu trực tiếp nên phải ủy thác cho một số doanh nghiệp có chức năng giao dịch ngoại thương trực tiếp tiến hành như yêu cầu của mình. Bên trung gian nhận thức sự ủy thác của doanh nghiệp để tiến hành giao dịch và đàm phán với đối tác nhập khập khẩu để làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên ủy thác. Việc đàm phán, ký kết hợp đồng và làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa sẽ do doanh nghiệp được ủy thác tiến hành, qua đó sẽ nhận được một khoản thanh toán là phí ủy thác Nhập khẩu ủy thác có đặc điểm như sau: Bộ phận ủy thác không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải tìm hiểu thị trường mà bên nhận ủy thác chỉ đứng ra đại diện cho bên ủy thác để tìm cách giao dịch với các đối tác nước ngoài.
Nếu có sự cố xảy ra thì họ là người thay mặt bên ủy thác có thể khiếu nại, đòi bồi thường khi tổn thất xảy ta. Trong hợp đồng ủy thác doanh nghiệp phải ký đồng thời hai hợp đồng là là hợp đồng thương mại và hợp đồng ủy thác nhập khẩu với bên ủy thác. Thứ ba, tạm nhập, tái xuất, Là hợp đồng nhập hàng nhưng không phải tiêu dùng trong nước mà để xuất sang một nước thứ 3 nào đó nhằm thu được lợi nhuận song những hàng này không được chế biến ở nước tái xuất. Đặc điểm: Hàng hóa không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà có thể chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu theo hình thức chuyển khẩu, nhưng tiền phải do người tái xuất trả cho người nhập khẩu và thu từ người nhập khẩu.
Doanh nghiệp tái xuất phải tính toán toàn bộ chi phí nhập hàng và xuất hàng sao cho thu hút lượng ngoại tệ lơn hơn chi phí ban đầu bỏ ra. Doanh nghiệp tái xuất phải tiến hành hai loại hợp đồng: Một hợp đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu nhưng không phải nộp thuế nhập khẩu. 17 Doanh nghiệp tái xuất được tính kim ngạch trên cả hàng tái xuất và hàng nhập. Doanh số tính trên giá trị hàng hóa tái xuất do đó vẫn chịu thuế.
Thứ tư, buôn bán đối lưu Đây là phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa xuất khẩu và nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua và ngược lại, và lượng hàng hóa trao đổi là tương đương. Đặc điểm của mua bán đối lưu là: Có thể tiến hành đồng thời 2 hoạt động là xuất khẩu và nhập khẩu; Lượng hàng giao đi và lượng hàng nhận về có giá trị tương đương. Thứ năm, nhập khẩu liên doanh, Là một hình thức nhập khẩu hàng hóa trên cơ sở liên kết tự nguyện giữa các doanh nghiệp (ít nhất là doanh nghiệp có chức năng nhập khẩu) nhằm phối hợp khả năng sản xuất đến xuất nhập khẩu trên cơ sở cùng chịu rủi ro và cùng chia sẻ lợi nhuận. Đặc điểm: Doanh nghiệp hoạt động nhập khẩu chỉ đóng góp một phần chi phí nhất định.