Phần Mở đầu 1. Lý do nghiên cứu 2. Lịch sử nghiên cứu 3. Mục tiêu nghiên cứu 4.
Phạm vi nghiên cứu 5. Câu hỏi nghiên cứu 7. Giả thuyết nghiên cứu 8. Phương pháp nghiên cứu 9.
Ý nghĩa của đề tài 10. Cấu trúc luận văn Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về hoạt động nghiên cứu khoa học và nhóm nghiên cứu khoa học tại Trƣờng Đại học 1. Một số khái niệm 2.
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trƣờng Đại học KHXH&NV Tp. Vài nét về Trường Đại học KHXH&NV Tp.HCM 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của ĐHQG - HCM 3.
Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học KHXH&NV Tp. Đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học KHXH&NV Tp.HCM Chƣơng 3. Giải pháp xây dựng nhóm nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trƣờng Đại học KHXH&NV Tp. Cơ sở lý luận đề ra các giải pháp xây dựng nhóm nghiên cứu 2.
Các giải pháp xây dựng nhóm nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học KHXH&NV Tp. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ NHÓM NGHIÊN CỨU TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm: 1.1 Khoa học: là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy. Khoa học là một hệ thống kiến thức hợp thành, có được từ bằng các kết quả nghiên cứu, quan trắc, thí nghiệm, thực nghiệm các vấn đề thế giới vật chất, quy luật tự nhiên, môi trường, xã hội nhân văn.
Theo “ The Oxfond Modern English Dictonary” thì khoa học là: - Áp dụng cho khoa học tự nhiên, phần kiến thức có hệ thống, nó đạt được nhờ sự quan sát theo một trình tự nhất định hay thường qua kết quả thực nghiệm để giải thích về vật chất, chức năng của toàn bộ thế giới vật chất. - Áp dụng cho khoa học chính trị, khoa học cũng có thể là kiến thức được trình bày theo một hệ thống đặc biệt hay một chủ đề đặc biệt. Mặt khác, khoa học cũng là một sự thể hiện những nguyên tắc, những qui luật của lĩnh vực chính trị xã hội. - Áp dụng cho ngành ngôn ngữ học, khoa học là toàn bộ kiến thức về một lĩnh vực trong tiếng nói chữ viết, văn phạm của một dân tộc, một đất nước… 1.2 Nghiên cứu: Trong tiếng Anh từ nghiên cứu (research) gồm có 2 vần re và search.
Theo từ điển, tiếp đầu ngữ re có nghĩa là sự lặp lại, làm mới lại hay lặp lại nhiều lần và từ sau là search, là một động từ có nghĩa là giám sát rất chặt chẽ và cẩn thận, để kiểm tra, thử nghiệm hay quan sát. Người ta đã thống nhất dùng danh từ research để mô tả một công việc nghiên cứu phải thật cẩn thận, kiên nhẫn và có 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hệ thống. Đồng thời phải kiểm tra một cách kỹ lưỡng về chuyên môn trong một số trường hợp đảm nhận việc cho ra những sự kiện hay nguyên lý (Grinnell, 1993) Grinnell (1993) còn cho rằng: “Nghiên cứu là một yêu cầu đã được biết trước sử dụng phương pháp khoa học để giải quyết những vấn đề và đưa ra những kiến thức mới có thể áp dụng vào thực tế”. Burns (1994) định nghĩa nghiên cứu là “công việc tìm hiểu có hệ thống để tìm ra câu trả lời cho vấn đề đặt ra”.
Nghiên cứu là cách thức suy luận, xem xét, tìm hiểu các mặt khác nhau trong chuyên môn và đưa ra những qui định trong những văn bản cụ thể, triển khai thực hiện các phương pháp mới để tăng cường chuyên môn. Trong nghiên cứu luôn có thói quen đặt các câu hỏi “Tại sao?”, “Phải làm gì?”. Mục tiêu nghiên cứu thực tế là để tìm ra câu trả lời hợp lý nhất, cùng với việc thay đổi những chính sách thích hợp để phục vụ cho chuyên môn hiệu quả hơn.3 Nghiên cứu khoa học: là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá. Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng. Theo Kerlinger (1986), “nghiên cứu khoa học là sự quan sát có hệ thống, được kiểm nghiệm thực tế và được phê bình chỉnh sửa dựa trên những hiện tượng giả định”.4 Hoạt động NCKH: bao gồm các công trình nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Trọng điểm ĐHQG, cấp ĐHQG, cấp trường; các chương trình, dự án NCKH trong nước và hợp tác quốc tế; các hội thảo khoa học quốc tế, hội thảo khoa học dành cho giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên; xuất bản sách, tạp chí, tập san khoa học.5 Giảng viên: Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên.6 Nhóm: là một tập hợp hai hoặc nhiều người chia sẻ mục tiêu. Các thành viên trong nhóm luôn tương tác với nhau, theo đó hành vi của mỗi thành viên bị chi phối bởi hành vi của các thành viên khác.
Trong một tổ chức, hầu hết người lao động là thành viên của ít nhất một nhóm nào đó, có thể là một nhóm chính thức hay nhóm không chính thức.7 Nhóm chính thức: là nhóm được thành lập xuất phát từ nhu cầu của chính tổ chức, trên cơ sở quyết định chính thức. Mục tiêu của nhóm chính thức phải phù hợp với mục tiêu của tổ chức.8 Nhóm không chính thức: là nhóm phát triển một cách tự nhiên nhằm đáp ứng các nhu cầu xã hội của người lao động. Hai loại nhóm không chính thức thường gặp là nhóm có cùng sự quan tâm, lợi ích và nhóm bằng hữu, bạn bè (các thành viên có những điểm tương đồng như cùng lứa tuổi, cùng sở thích, cùng quan điểm chính trị…) 1.9 Nhóm nghiên cứu là tập hợp những người có năng lực nghiên cứu bổ trợ cho nhau (kiến thức, kỹ năng và khả năng), cùng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện các mục tiêu chung. Các thành viên trong nhóm tương tác với nhau và với trưởng nhóm để đạt được mục tiêu chung.
Mỗi thành viên trong nhóm chia sẻ thông tin và thực hiện phần việc của mình dựa vào thông tin của các thành viên còn lại. Họ kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ và phụ thuộc vào trưởng nhóm để được cung cấp thông tin và nguồn lực, được huấn luyện khi cần thiết cũng như khi cần phối hợp hay liên kết với những nhóm nghiên cứu khác. Nhóm nghiên cứu khoa học (Scientific Research group _ SRG) theo Joseph S. Fruton (Contrasts in scientific Styles: Research Groups in the Chemical and Biochemical Research, Diane Publishing, 1990), có thể còn nhiều cách khác để gọi tên: Research Team, Research School, Research Unit.
Nhìn chung, có thể hiểu nhóm nghiên cứu khoa học là tập thể các nhà khoa học và học thuật: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Định hướng cùng một mục đích, một lĩnh vực chuyên môn nhất định. - Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo tại một đơn vị hạt nhân (hay xoay quanh đơn vị hạt nhân). - Được dẫn dắt bởi một (hay một vài) nhà nghiên cứu có uy tín khoa học, uy tín đạo đức và đồng thời phải có khả năng tổ chức, giao tiếp, tập hợp… 1.10 Nhân lực khoa học công nghệ: Theo định nghĩa của UNESCO: nhân lực khoa học và công nghệ là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ. Như vậy nhân lực nghiên cứu khoa học cũng nằm trong nhóm này.
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trƣờng Đại học 1. Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trƣờng Đại học Hoạt động khoa học và công nghệ là một trong các nhiệm vụ của trường Đại học. Trường Đại học vừa là cơ sở đào tạo, vừa là cơ sở nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng và chuyển giao công nghệ vào sản xuất và đời sống. Trường Đại học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nhiệm vụ khoa học công nghệ ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước và nghiên cứu khoa học về giáo dục.
Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên đóng góp vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học. Nâng cao trình độ và năng lực của giảng viên, cán bộ hoạt động khoa học và công nghệ trong trường Đại học. Góp phần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, thúc đẩy hội nhập với nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại của khu vực và thế giới.
Những quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học tại trƣờng đại học Theo điều 18 của Luật Giáo dục: [10, trg 5] 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Nhà nước tạo điều kiện cho nhà trường và cơ sở giáo dục khác tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến khoa học, công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, từng bước thực hiện vai trò trung tâm văn hóa, khoa học, công nghệ của địa phương hoặc của cả nước. Nhà trường và cơ sở giáo dục khác phối hợp với tổ chức nghiên cứu khoa học, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong việc đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến khoa học giáo dục. Các chủ trương, chính sách về giáo dục phải được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học trong nghiên cứu khoa học, phục vụ xã hội.