Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh tạiCông ty cổ phần Logistics Vinalink. Chương 3:Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Logistics Vinalink. Luan van 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm liên quan 1. Doanh nghiệp Ngày nay, các doanh nghiệp đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế đất nƣớc. Doanh nghiệp tạo ra của cải vật chất đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng của xã hội, tạo ra việc làm, thu nhập cho hàng triệu ngƣời. Sự tăng trƣởng và phát triển của đất nƣớc phụ thuộc rất lớn vào sự lớn mạnh của hệ thống các doanh nghiệp.
Vậy doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế đƣợc thành lập để thực hiện các chức năng kinh doanh nhƣ sản xuất, lƣu thông hàng hoá hoặc làm dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của con ngƣời và xã hội, và thông qua đó nhằm thu đƣợc lợi nhuận, lợi ích cho chủ sở hữu. Theo Khoản 10 Điều 4 của Luật doanh nghiệp 2020 thì doanh nghiệp đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [24, tr. Kinh doanh Theo Khoản 21 Điều 4 của Luật doanh nghiệp 2020 thì kinh doanh đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tƣ, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” [24, tr. Hiệu quả kinh doanh Do xuất phát từ lập trƣờng tƣ tƣởng, địa vị xã hội, lợi ích và góc nhìn khác nhau nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh.
Trong xã hội tƣ bản, giai cấp tƣ bản nắm quyền sở hữu tƣ liệu sản xuất, do đó quyền lợi về kinh tế chính trị đều ƣu tiên cho nhà tƣ bản. Chính vì thế việc phấn đấu tăng hiệu quả kinh doanh thực chất là đem lại lợi nhuận và nâng cao đời sống của các nhà tƣ bản. Nhà kinh tế học ngƣời Anh Adam Smith cho rằng: Hiệu quả là kết quả đạt đƣợc trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá và nhà kinh tế học Luan van 8 ngƣời Pháp Ogiephri cũng quan niệm nhƣ vậy. Ở đây hiệu quả đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả kết quả kinh doanh.
Rõ ràng quan điểm này khó giải thích kết quả kinh doanh có thể tăng do tăng chi phí mở rộng các nguồn sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng cùng có hiệu quả. Quan điểm này phản ánh tƣ tƣởng trọng thƣơng. Quan niệm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”.
Quan niệm này đã biểu hiện đƣợc quan hệ so sánh tƣơng đối giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí tiêu hao. Tuy nhiên, xét trên quan điểm Mác-Lênin thì sự vật hiện tƣợng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ. Hơn nữa kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên kết mật thiết với yếu tố sẵn có, chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên quá trình kinh doanh và làm kết quả kinh doanh thay đổi. Theo quan điểm này tính hiệu quả kinh doanh chỉ đƣợc xét đến phần bổ sung và chi phí bổ sung, nó mới chỉ dừng lại ở mức độ xem xét sự bù đắp chi phí bỏ ra cho quá trình kinh doanh tăng thêm.
Quan niệm thứ ba cho rằng: Nếu hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh là hiệu số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó. Trên góc độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạm trù lợi nhuận. Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc và trình độ tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp. Đây là quan niệm khá phổ biến đƣợc rất nhiều ngƣời thừa nhận.
Quan niệm này gắn kết quả với chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên quan niệm này chƣa biểu hiện tƣơng quan về lƣợng và chất giữa kết quả và chƣa phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này. Quan niệm thứ tƣ cho rằng: Nếu đứng trên góc độ từng yếu tố riêng lẻ cấu thành quá trình kinh doanh để xem xét, thì hiệu quả là thể hiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố đó trong quá trình sản xuất. Quan điểm này ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất cơ giới hoá, nó phân quá trình kinh doanh thành những yếu tố, những công đoạn và hiệu quả đƣợc xem xét cho từng yếu tố.
Tuy nhiên, hiệu quả của từng yếu tố đạt đƣợc không có nghĩa là hiệu quả kinh doanh cũng đạt đƣợc. Hiệu quả kinh doanh chỉ đạt đƣợc khi có sự thống nhất, Luan van 9 có tính hệ thống và đồng bộ giữa các bộ phận, các yếu tố. Qua các quan niệm trên có thể thấy: Mặc dù chƣa có sự hoàn toàn thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh doanh. Nhƣng ở các quan niệm khác nhau đó lại có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lƣợng của hoạt động kinh doanh.
Đó là do các quan điểm đã phản ánh đúng bản chất của hiệu quả kinh doanh-phản ánh mặt chất lƣợng của hiệu quả kinhdoanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất để đạt đƣợc mục tiêu cuốicùng của hoạt động kinh doanh – mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Từ các quan niệm trên, ta có thể nói: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc sự chênh lệch có lợi giữa kết quả thu đƣợc với chi phí đã bỏ ra trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc thực hiện hàng loạt các biện pháp có hệ thống, có tổ chức, có tính đồng bộ và có tính liên tục tại doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu cuối cùng đó là hiệu quả cao – đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bao gồm rất nhiều khâu với các mối liên hệ, tác động qua lại mang tính chất quyết định và hỗ trợ cùng nhau thực hiện mục tiêu tổng thể của hoạt động kinh doanh.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của tất cả các khâu trong kinh doanh là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tổ chức điều hành hoạt động của bất cứ một doanh nghiệp nào. Xét theo nghĩa rộng hơn thì hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội (bao gồm lao động sống và lao động vật hóa của xã hội). Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả. Chính vì khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực.
Để đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Bên cạnh đó cần hiểu phạm trù hiệu quả một cách toàn diện trên cả hai mặt định lƣợng và định tính. Về mặt định lƣợng, hiệu quả kinh doanh biểu hiện ở mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và chi phí bỏ ra. Nếu xét về tổng lƣợng thì kinh Luan van 10 doanh chỉ đạt hiệu quả khi kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn hiệu quả kinh doanh càng cao và ngƣợc lại.
Về mặt định tính, hiệu quả kinh doanh cao phản ánh sự cố gắng, nỗ lực, trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh vừa là một phạm trù cụ thể vừa là một phạm trù trừu tƣợng, nếu là phạm trù cụ thể thì trong công tác quản lý phải định lƣợng thành các chỉ tiêu, con số để tính toán so sánh; nếu là phạm trù trừu tƣợng phải đƣợc định tính thành các mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnh vực kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, thì mục tiêu kinh doanh cơ bản của các doanh nghiệp là lợi nhuận. Lợi nhuận là phần giá trị dôi ra mà doanh nghiệp thu đƣợc ngoài các chi phí cần thiết (chi phí kinh doanh).
Nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc cực đại hoá giá trị này thông qua hàng loạt các biện pháp tiết kiệm chi phí, cải tiến sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí thu mua, nguyên vật liệu, năng lƣợng tiêu thụ và phát huy các nguồn lực khác của doanh nghiệp. Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh rất phức tạp vì bản thân kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh nhiều khi không đƣợc phản ánh chính xác. Nguyên do là có những chi phí và kết quả không phản ánh đƣợc bằng các đơn vị đo lƣờngthông thƣờng (nhƣ uy tín, chi phí vô hình. Có lẽ vì vậy mà một đặc điểm quantrọng nhất của hiệu quả kinh doanh là khái niệm phức tạp và khó đánh giá chínhxác.
Hiệu quả kinh doanh đƣợc xác định từ kết quả thu đƣợc và chi phí bỏ ra, trongkhi đó kết quả và chi phí lại rất khó đo lƣờng vì vậy đo lƣờng đánh giá hiệu quảkinh doanh là rất khó khăn. Về kết quả kinh doanh: Hầu nhƣ rất ít các doanh nghiệp xác định đƣợc chính xác kết quả kinh doanh ở một thời điểm cụ thể. Nguyên nhân là do quá trình kinh doanh không trùng khớp với nhau, vả lại tại các doanh nghiệp sản xuất xác định sản phẩm đã tiêu thụ trong khâu hàng gửi bán tại các điểm tiêu thụ, đại lý hay đơn vị bạn. là rất khó khăn.
Bên cạnh đó việc ảnh hƣởng của thƣớc đo giá trị cũng là nguyên nhân gây lên khó khăn trong việc đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh (thay đổi của giá trị đồng tiền trên thị trƣờng theo địa điểm và thời gian).