phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty chứng khoán Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm và phân loại Công ty chứng khoán Hiện nay chƣa có một định nghĩa nào thực sự rõ ràng về CTCK, nhƣng định nghĩa phổ biến nhất và cơ bản nhất là: “Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trƣờng chứng khoán”. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty chứng khoán Vì CTCK là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của nó có nhiều điểm khác nhau ở các nƣớc.
Mỗi nƣớc đều có một mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán riêng, phù hợp với đặc điểm của hệ thống tài chính và tuỳ thuộc vào sự cân nhắc lợi hại của những ngƣời làm công tác quản lý nhà nƣớc. Tuy nhiên, ta có thể khái quát lên ba mô hình cơ bản hiện nay là: Mô hình CTCK ngân hàng đa năng toàn phần: một ngân hàng có thể tham gia tất cả các hoạt động kinh doanh tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm mà không cần thông qua những pháp nhân riêng biệt. Mô hình CTCK ngân hàng đa năng một phần: một ngân hàng muốn tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải thông qua công ty con là pháp nhân riêng biệt. Công ty chuyên doanh chứng khoán: hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không đƣợc tham gia kinh doanh chứng khoán.
– Lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh: Sản phẩm kinh doanh là chứng khoán - một sản phẩm tƣơng đối đặc thù mà chỉ có các CTCK cung cấp trên thị trƣờng. CTCK có thể thực hiện nhiều ngiệp vụ kinh doanh chứng khoán nếu có đủ điều kiện và đƣợc UBCKNN cấp giấy phép cho những hoạt động đó. Hoạt động kinh doanh 6 chính, thƣờng xuyên và mang tính đặc trƣng là kinh doanh chứng khoán bao gồm môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán. Bên cạnh những nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thì CTCK còn đƣợc cung cấp dịch vụ tƣ vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác.
– Hình thức tổ chức pháp lý: Hiện nay trên thế giới, các CTCK có rất nhiều hình thức pháp lý nhƣ quốc doanh, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, liên doanh, doanh nghiệp tƣ nhân… Theo Luật Chứng khoán hiện hành, các CTCK hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có hai hình thức pháp lý là Công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn. Quy định này giúp CTCK có khả năng huy động vốn lớn và chia sẻ rủi ro trong phạm vi vốn góp. – Phương diện quản lý nhà nước: CTCK đặt dƣới sự quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý chuyên trách là UBCKNN. – Pháp luật điều chỉnh: Luật chứng khoán và các quy định của pháp luật có liên quan.
– Nhân tố con người: Trong công ty chứng khoán, quan hệ với khác hàng giữ vai trò rất quan trọng, đòi hỏi nhân tố con ngƣời phải luôn đƣợc quan tâm, chú trọng. Khác với các công ty sản xuất, ở công ty chứng khoán việc thăng tiến cất nhắc lên vị trí cao hơn nhiều khi không quan trọng. Các chức vụ quản lí hay giám đốc của công ty nhiều khi có thể nhận đƣợc ít thù lao hơn so với một số nhân viên cấp dƣới. – Ảnh hưởng của thị trường tài chính: Thị trƣờng tài chính nói chung và thị trƣờng chứng khoán nói riêng có ảnh hƣởng lớn tới sản phẩm, dịch vụ, khả năng thu lợi nhuận của công ty chứng khoán.
Thị trƣờng chứng khoán càng phát triển thì công cụ tài chính càng đa dạng, hàng hoá dịch vụ phong phú, qua đó công ty chứng khoán có thể mở rộng hoạt động thu nhiều lợi nhuận. Với các trình độ phát triển khác nhau của thị trƣờng, các công ty chứng khoán phải có cơ cấu tổ chức đặc thù để đáp ứng những nhu cầu riêng. Thị trƣờng càng phát triển thì cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán càng phức tạp (chẳng 7 hạn Mỹ, Nhật. Trong khi đó, thị trƣờng chứng khoán mới hình thành thì cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán giản đơn hơn nhiều (nhƣ Đông Âu, Trung Quốc.
– Nguyên tắc đạo đức: Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ảnh hƣởng nhiều tới lợi ích công chúng và biến động của thị trƣờng tài chính. Vì vậy, luật pháp các nƣớc qui định rất chặt chẽ đối với hoạt động của công ty chứng khoán. Nhìn chung có một số nguyên tắc cơ bản sau: + Công ty chứng khoán có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, chỉ đƣợc tiết lộ thông tin khi cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép. + Công ty chứng khoán phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng, không đƣợc tiến hành bất cứ hoạt động lừa đảo phi pháp nào.
+ Công ty chứng khoán không đƣợc dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh. + Công ty chứng khoán phải tách biệt tài sản của mình với tài sản của khách hàng và tài sản của khách hàng với nhau; không đƣợc dùng tài sản của khách hàng làm vật thế chấp, trừ trƣờng hợp đƣợc khách hàng đồng ý bằng văn bản. + Công ty chứng khoán khi thực hiện tƣ vấn phải cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng, đảm bảo thông tin chính xác, tin cậy. + Công ty chứng khoán không đƣợc nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông thƣờng cho hoạt động dịch vụ của mình.
+ Ở nhiều nƣớc, công ty chứng khoán phải đóng tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tƣ chứng khoán để bảo vệ lợi ích cho khách hàng trong trƣờng hợp công ty chứng khoán bị mất khả năng thanh toán. + Ngoài ra, còn có qui định chặt chẽ nhằm chống thao túng thị trƣờng; cấm mua bán khớp lệnh giả tạo với mục đích tạo ra trạng thái "tích cực bề ngoài"; cấm giao dịch nội gián sử dụng thông tin nội bộ mua bán chứng khoán cho chính mình làm thiệt hại tới khách hàng. Vai trò và chức năng của Công ty chứng khoán 1. Đối với các tổ chức phát hành - Hỗ trợ chuyên môn thông qua tƣ vấn: CTCK cung cấp cho doanh nghiệp 8 các giải pháp tổng hợp về tài chính Công ty, cơ cấu lại doanh nghiệp, lập và đánh giá dự án, quản lý tài sản và định hƣớng đầu tƣ.
- Tạo cơ chế huy động vốn: Mục tiêu của các tổ chức phát hành khi tham gia vào TTCK là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì thế, qua hoạt động bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành, CTCK cung cấp cơ chế huy động vốn phục vụ đối tƣợng khách hàng này. Đối với các nhà đầu tư - Kiểm soát rủi ro trong hoạt động đầu tƣ: TTCK là thị trƣờng của những sản phẩm tài chính, để thẩm định chất lƣợng và giá cả của chúng thì cần phải thu thập, xử lý thông tin. Vì thế CTCK có vai trò giúp nhà đầu tƣ đánh giá đúng và chính xác giá trị khoản đầu tƣ của mình.
Với dịch vụ tƣ vấn, CTCK trở thành một kênh thông tin hiệu quả cho nhà đầu tƣ. Những thông tin này bao gồm giá cả các loại cổ phiếu, trái phiếu, tình hình chính sách, môi trƣờng kinh tế trong và ngoài nƣớc. Những thông tin này đƣợc CTCK cung cấp chính xác và kịp thời, là cơ sở để các nhà đầu tƣ thực hiện các quyết định mua bán của mình. - Đảm bảo an toàn trong giao dịch: Thông qua việc lƣu ký và đăng ký chứng khoán, các CTCK nắm đƣợc thông tin về các chứng khoán và tỷ lệ sở hữu chứng khoán của nhà đầu tƣ, từ đó kịp thời đƣa ra các quyết định xử lý khi tỷ lệ này vƣợt quá mức quy định của pháp luật hiện hành.
Cũng qua hoạt động này, CTCK cung cấp cho nhà đầu tƣ những thông tin về chứng khoán bị mất cắp hay không còn giá trị lƣu hành, đảm bảo cho các chứng khoán mua bán là các chứng khoán thực nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tƣ. Khi giao dịch chứng khoán đƣợc thực hiện, các CTCK tiến hành chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán tiền giữa các bên tham gia giao dịch. Nhƣ vậy, CTCK làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho các giao dịch chứng khoán. Đối với TTCK - Góp phần tạo lập giá cả và điều tiết thị trƣờng: Giá cả là do thị trƣờng quyết định, nhƣng để đƣa ra mức giá cuối cùng, ngƣời mua và ngƣời bán phải thông qua CTCK vì họ không đƣợc trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán.
Ngoài ra, 9 CTCK còn thực hiện vai trò ổn định thị trƣờng, can thiệp để điều tiết giá cả. Vai trò này xuất phát từ nghiệp vụ tự doanh, qua đó CTCK dành một tỷ lệ nhất định các giao dịch của mình (do luật pháp quy định) để thực hiện vài trò bình ổn thị trƣờng. - Là tác nhân tạo hàng hoá và tính hấp dẫn của hàng hoá cho TTCK. Trên thị trƣờng sơ cấp, bằng hoạt động bảo lãnh phát hành, CTCK tham gia vào quá trình tạo hàng hoá cho thị trƣờng.
Với chuyên môn và uy tín của mình, cổ phiếu và trái phiếu khi đƣợc CTCK bảo lãnh phát hành sẽ rút ngắn thời gian phát hành và nhanh chóng đƣợc giao dịch. Trong quá trình bảo lãnh, CTCK định giá chứng khoán cho đợt phát hành phù hợp với thực trạng của tổ chức phát hành và tình hình thị trƣờng, đồng thời bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu. Điều này khiến chứng khoán đƣợc nhà đầu tƣ tín nhiệm hơn. Bên cạnh đó, hoạt động môi giới và tƣ vấn của CTCK trên thị trƣờng thứ cấp tạo nên tính thanh khoản cho chứng khoán, làm cho chúng hấp dẫn hơn trong con mắt của nhà đầu tƣ.
Từ đó tác động trở lại, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp tục phát hành trên thị trƣờng sơ cấp. Đối với các cơ quan quản lý thị trường Mục tiêu của các cơ quan quản lý, giám sát thị trƣờng là đảm bảo giao dịch an toàn và kiểm soát thị trƣờng.