CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUÁ KINH DOANH CUA DOANH NGHIỆP 1.1 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Các khái niệm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Trong nền KTTT như hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh đều hướng đến một mục đích quan trọng là tối đa hoá lợi nhuận. Bởi lợi nhuận là yếu tố có sức ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triên của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn có được lợi nhuận cao, cần phải tối ưu hoá quá trình sản xuất từ việc xem xét các yếu tố đầu vào, tiến hành quá trình sản xuất sản phẩm, cung cấp và tiêu thụ sản phẩm. Mức độ tối ưu và hợp lý hóa của quá trình được biểu hiện qua một khái niệm trong kinh tế gọi là: HQKD.
Trên thực tế, cũng có không ít quan điểm khác nhau về định nghĩa HQKD. Các định nghĩa bắt nguồn từ các góc độ tìm hiểu khác nhau xoay quanh HQKD và quá trình phát triển trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp. Theo Paul Anthony Samuemlson một nhà kinh tế học nổi tiếng người Hoa Kỳ đã viết trong quyền Kinh tế học rằng: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nên kinh tế dé thỏa mãn nhu cau, mong muốn cua con người. Theo quan điểm của ông, ông đã nêu ra hai đặc điểm rất cụ thé của hiệu quả là tận dụng tối ưu tất cả các nguồn lực và công dụng, mục đích của tất cả các nguồn lực ấy.
Tuy nhiên, quan điểm của ông lại chưa chỉ ra phương thức đo lường, tính toán hiệu quả nói chung và HOKD trong doanh nghiệp nói riêng. Theo nhận định của Adam Smith, nhà kinh tế học nồi tiếng của Anh, ông cho rằng: “ Hiệu qua là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa ”. Hạn chê của quan điểm trên là chưa phân biệt rõ ràng hiệu quả, kết quả và các chi phí sử dụng để đạt được HQKD đó. Nếu doanh thu tiêu thụ hàng hóa lớn nhưng chỉ phí cũng lớn thì doanh nghiệp này vẫn chưa chắc là có HQKD cao.
Chính vì vậy, phải phân biệt rõ ràng giữa HQKD và kết quả kinh doanh. Thực tế, kết quả kinh 10 doanh mới chỉ có thé phản ánh về mặt hình thức mà HDKD đạt được, nhưng kết qua đạt được tạo ra với chi phí như thế nào, có tương xứng với kết quả tạo ra không mới được các nhà kinh tế quan tâm. Mối quan hệ, tỷ lệ giữa kết quả tạo ra và chi phí sử dụng sẽ đánh giá chất lượng của HDKD, đánh giá HQKD của doanh nghiệp. Theo ông Nguyễn Văn Tạo: “ HOKD không chỉ là sự so sánh giữa chỉ phí dau vào và kết quả nhận được ở da u ra; HỌKD được hiểu trước tiên là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không đạt được mục tiêu thì không thể có hiệu quả và đề hoàn thành mục tiêu ta cần phải sử dụng nguồn lực như thé nàoø”[2, tr10].
Theo ông, HQKD phải gắn liền với mục tiêu của doanh nghiệp, doanh nghiệp được coi là hoạt động có hiệu quả thì phải đạt được các mục tiêu đã dé ra. Như vậy, HQKD là thước đo đánh giá mục tiêu hoàn thành với nguôn lực bỏ ra. Theo Trần Thị Thu Phong (2013) : “ Biểu hiện cao nhất, tập trung nhất của HOKD là khả năng sinh lợi. Vì vậy, để doanh nghiệp có được khả năng sinh lợi cao đòi hỏi doanh nghiệp đó phải sử dụng có hiệu quả các nguôn lực kinh tế sử dụng cho HĐKD.
Điễu này dong nghĩa răng, phân tích HOKD trong các doanh nghiệp can đánh giá đúng hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lợi của các nguôn lực. Chính vì vậy, dé đánh giá được HOKD thì sẽ phải phân tích hai nội dung là phân tích hiệu quả hoạt động và phân tích khả năng sinh lợi. ” Bà Đoàn Thục Quyên (2015) cho rằng: “HOKD của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh moi quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được với chỉ phí, nguồn lực doanh nghiệp bỏ ra dé đạt được kết quả đó. HOKD được xác định bang chỉ tiêu kinh tế đặc trưng phản ánh môi quan hệ so sánh giữa chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh đạt được với chỉ tiêu phản ánh chỉ phí hoặc nguồn lực đã sử dụng vào SXKD nhằm đạt duoc mục tiêu của doanh nghiệp ”.
Tựu chung lại, có nhiều quan điểm khác nhau về HQKD và phương thức dé đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trên quan điểm của bản thân và các quan điểm của các tác giả Trần Thị Thu Phong, Đoàn Thục Quyên, trong phạm vi đề tài này em sử dụng khái niệm: “ HOKD của doanh nghiệp là phạm tra kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được với chỉ phí, 11 nguồn lực doanh nghiệp đã bỏ ra dé đạt được kết quả đó, thể hiện thông qua các chi tiêu về khả năng hoạt động và sinh lời của doanh nghiệp.2 Vai trò của việc nâng cao HQKD của doanh nghiệp Đối với nền kinh tế quốc dân: HQKD của mỗi doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng, tác động đến hiệu quả của nền kinh tế quốc dân. Hiệu qua của nền kinh tế quốc dân sẽ cao nếu như HQKD của từng doanh nghiệp cao. Từ đó sẽ góp phần nâng cao, làm tăng trưởng kinh tế, cải thiện mức sống của con người trong xã hội, bảo đảm an ninh xã hội.
Đối với doanh nghiệp: Các chỉ tiêu đánh giá HQKD của doanh nghiệp phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, sự quản lý các nguồn lực của doanh nghiệp, trình độ công nghệ kỹ thuật. HQKD đóng vai trò nòng cốt, nó quyết định đến sứ cạnh tranh và xu hướng của doanh nghiệp trong nền KTTT. Khi kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp mới có thê tái đầu tư để cải tiến công nghệ, máy móc, các trang thiết bị giúp nâng cao năng suất hoạt động, chất lượng và giá cả sản phẩm, tạo ưu thế về giá thành, tăng khả năng cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp đó trên thị trường. Đối với người lao động: người lao động sẽ có việc làm ôn định, mức thu nhập cạnh tranh nếu như doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
Đồng thời,điều này góp phần cải thiện cả đời sống vật chất và tinh thần và môi trường làm việc của người lao động ngày một được cải thiện, nâng cao. Mặt khác, nếu tạo sự yén tâm cho người lao động thì họ sẽ gắn bó, cống hiến cho doanh nghiệp trong thời gian lâu dài, toàn tâm toàn ý cống hiến cho doanh nghiệp, khi đó năng suất lao động sẽ tăng lên làm cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng tăng lên. Đối với xã hội:. Doanh nghiệp trong lĩnh vực SXKD sẽ phải nộp một phần lợi nhuận cho Ngân sách nhà nước bằng việc nộp các loại thuế.
Nếu HQKD tốt, lợi nhuận ngày càng cao thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó sẽ nộp nhiều thuế hơn, góp phần làm tăng thêm Ngân sách nhà nước. 12 Đối với nhà đầu tư, ngân hàng: Đối với các nhà đầu tư, ngân hàng thì mục đích cuối cùng của họ chính là thu hồi được vốn đã bỏ ra và lợi nhuận của khoản vốn đó. Các chỉ tiêu đánh giá HQKD tốt sẽ là căn cứ thông tin dé đánh giá tình hình dau tư, cho vay mang lại lợi ích kinh tế nhằm mục tiêu thu hồi vốn và lãi trong quá trình kinh doanh. Như vậy, HQKD là thước đo hữu hiệu dé các nhà quản trị doanh nghiệp thông qua đó thực hiện các chức năng của mình và cân nhắc đưa ra các biện pháp thích hợp dé làm sao mà vừa tăng được doanh thu vừa kiểm soát được chi phí hợp lý.3 Sự can thiết phải nâng cao HOKD của doanh nghiệp Trong quá trình HDKD, yêu cầu mỗi một doanh nghiệp phải luôn đặt minh trong mối quan hệ với thị trường, đặc biệt là nền KTTT như hiện nay khiến các doanh nghiệp luôn cạnh tranh một cách gay gắt lẫn nhau.
Do đó, dé có thể tổn tại và đứng vững được trong môi trường khắc nghiệt như hiện nay đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nỗ lực hoạt động ngày càng tốt hơn, có hiệu quả hơn. Trên thực tế, các tài nguyên và nguồn lực trong xã hội đều có hạn và sẽ dần trở nên khan hiếm nếu bị khai thác sử dụng quá mức. Trong khi đó, các nhu cầu của con người lại ngày cảng tăng lên đa dạng, phong phú hơn khiến tinh trạng khan hiếm nguồn lực sẽ diễn ra ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Đây chính là ví dụ phản ánh về sự khan hiếm.
Vì quy luật khan hiếm nên mọi doanh nghiệp phải xác định chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Vì để được thị trường chấp nhận thì đòi hỏi các sản phâm được sản xuất với số lượng sản phẩm và chất lượng phù hop. Dé nhận thức được sự quan trọng của việc nâng cao HQKD đối với các công ty đang tồn tại trong nền kinh tế có nhiều cạnh tranh, chúng ta phải am hiểu, đánh giá đúng đăn về cơ chế thị trường và các hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động hiện nay trong cơ chế thị trường đó. Thị trường là không gian diễn ra ra hoạt động mua bán,trao đôi các loại hang hoá. Khi sản xuất hàng hóa ra đời thì thị trường từ đó cũng hình thành từ đây.
Bên cạnh đó, thị trường còn là câu nôi quan trong trong việc lưu thông va điêu tiết hàng hoá. Nhờ vậy, công ty có thể xác định được sự phân phối các nguồn lực nhờ 13 vào hệ thống giá cả các loại hàng hóa trên thị trường. Các quy luật vận động của hàng hoá, giá cả, tiền tệ luôn tồn tại trên thị trường. Những quy luật đó đã góp phần xây dựng một hệ thống bài bản, quy củ của nền KTTT.
Do đó, những ảnh hưởng phức tạp trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa đã góp phần hình thành nên cơ chế thị trường. Trong đó, việc tiêu thụ, phân phối và điều tiết sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các quan hệ của hoạt động thương mai, mua ban, trao đôi hàng hóa trên thị trường. Tổng kết lại, cơ chế thị trường vận động ngày một đa dạng và phức tạp hơn dẫn đến sự cạnh tranh khốc tiệt của các doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện thúc đây sự phát triển tiến bộ của các doanh nghiệp một cách sâu rộng.