MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giai đoạn năm 2018 - 2022 được xem là những năm có nhiều thách thức khó khăn cũng như cơ hội lớn đối với kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng bởi các sự kiện ảnh hưởng quy mô toàn cầu như cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, sự xuất hiện của đại dịch Covid-19. Tháng 3 năm 2018, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung chính thức bùng nổ, cuộc xung đột này diễn ra ngày càng sâu đậm khi hai nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới (Worldbank, 2021) liên tục đáp trả bằng những hình phạt từ các công cụ kinh tế đối với các mặt hàng và lĩnh vực công nghệ khiến kinh tế toàn cầu bị tác động mạnh mẽ. Với vị thế là một quốc gia đang phát triển và là nước được hưởng lợi từ các hiệp định thương mại đã ký kết, Việt Nam nhận được nhiều ảnh hưởng tích cực, nhưng bên cạnh đó không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực theo.
Một trong số đó là sự lao dốc của thị trường chứng khoán (sau đây viết tắt là TTCK), chỉ số VNIndex giảm từ khoảng 1200 điểm xuống 890 điểm (Xem Phụ lục 1). Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn đạt mức cao, GDP năm 2018 tăng 7,08% và 7,02% năm 2019 (theo Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội, 2018,2019, GSO) nhờ các giải pháp kịp thời và hiệu quả của chính phủ. Đến giữa đầu năm 2020, do những diễn biến phức tạp từ virus corona, các hoạt động kinh tế - xã hội tại các quốc gia trên thế giới đều bị gián đoạn bởi các chính sách cách ly, phong toả từ chính phủ và đặc biệt là thiệt hại nặng nề về con người và tiền bạc. Thế nhưng, Việt Nam vẫn giữ vững phong độ nhờ những giải pháp mạnh mẽ và quyết liệt thực hiện theo mục tiêu kép “Vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế” khiến GDP của nước ta không những dương mà còn đạt 2,91% (theo Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội, 2020, GSO), trở thành một trong những nước tăng trưởng kinh tế ở mức cao nhất trong khu vực và thế giới.
Năm 2021 và 2022 tuy ảnh hưởng tiêu cực từ suy thoái kinh tế thế giới, chuỗi liên kết xuất nhập khẩu của Việt Nam ảnh hưởng khá nặng nề nhưng GDP 2 năm này vẫn tăng trưởng tích cực lần lượt là 2,58% và 8,02% (2021,2022, GSO). 2 Cùng lúc đó, TTCK Việt Nam với thâm niên tồn tại và phát triển trên 20 năm đã và đang hoàn thành tốt vai trò của mình chính là công cụ huy động vốn cho nền kinh tế, tạo môi trường và cơ hội cho các nhà đầu tư tham gia giao dịch chứng khoán. Sau sự ảnh hưởng của các sự kiện trong nền kinh tế thế giới, TTCK Việt Nam rơi vào giai đoạn suy giảm nặng nề. Thế nhưng, TTCK là nơi diễn ra hoạt động trao đổi sôi động, do đó luôn có những “kẻ săn gấu” đợi chờ sự sụt giảm mạnh để có thể tham gia thị trường với vị thế hấp dẫn.
Là một trong những thành phần quan trọng của thị trường, các công ty chứng khoán cần có những chính sách hoạt động hiệu quả để đáp ứng nhu cầu cần thiết của thị trường và các nhà đầu tư. Để làm tốt vai trò của các tổ chức định chế tài chính trung gian thông qua các hoạt động chính là lưu ký, môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh và bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán cần có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình để tồn tại và phát triển bền vững trên TTCK Việt Nam. Là một trong những công ty đồng hành lâu đời cùng thị trường tài chính Việt Nam, FPTS luôn đặt trọng tâm cốt lõi vào việc phát triển nhân lực và xây dựng lợi thế cạnh tranh về công nghệ. Gần 16 năm hoạt động và phát triển, FPTS đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong ngành về các hoạt động chính như môi giới cổ phiếu cơ sở, trái phiếu và phái sinh trong nhiều năm liền.
Tuy nhiên trong suốt quá trình hình thành và phát triển, không thể phủ nhận một số hạn chế tồn đọng trong hoạt động kinh doanh. Với mục tiêu hệ thống các kiến thức, phân tích doanh nghiệp và giúp FPTS có góc độ quan sát khách quan, nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần chứng khoán FPT” được thực hiện thông qua việc phân tích hiệu quả tài chính và kinh tế - xã hội, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó, đề xuất, gợi ý những giải pháp cải thiện bất cập tồn đọng đồng thời phát huy những điểm mạnh vốn có nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FPTS. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiệu quả hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp trong mọi thời điểm đều là mối quan tâm của nền kinh tế nói chung và các nhà quản trị nói riêng.
Do đó trên thế 3 giới đã tồn tại nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề việc đánh giá hiệu quả hoạt động và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đặc điểm chung của các bài nghiên cứu được chọn lọc là đều nhận thức được tầm quan trọng của hiệu quả hoạt động và tối đa hoá lợi nhuận trong doanh nghiệp. Do đó mục tiêu chung của các nghiên cứu là tìm ra các yếu tố ảnh hưởng hay chứng minh sự tác động của một, một vài hoặc nhiều yếu tố đối với khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Các nghiên cứu đa phần được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua phân tích hồi quy và dữ liệu được đưa vào phân tích là dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo của doanh nghiệp, dữ liệu vĩ mô được thu thập từ các cơ sở dữ liệu thống kê tin cập như worldbank và các bản thống kê thuộc chính phủ các nước.
Có thể tổng quan những công trình nghiên cứu mà tác giả đã tham khảo theo khía cạnh ngoài nước và trong nước như sau: Các nghiên cứu ngoài nước: Hifza Malik (2011), Determinants of insurance companies profitability: An analysis of insurance sector of Pakistan. Tác giả cho rằng khả năng sinh lời là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của công ty bởi nó chính là tối đa hóa sự giàu có và là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động. Do đó với nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty tại Pakistan được đo bằng ROA - lợi nhuận trên tổng tài sản. Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là thứ cấp và được thu thập từ báo cáo tài chính của 35 công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhận thọ được niêm yết trong giai đoạn 2005 - 2009.
Trong đó, mô hình ban đầu được xác định có 5 biến độc lập ảnh hưởng đến khả năng sinh lời ROA bao gồm: số năm thành lập và phát triển (tuổi của công ty), quy mô của công ty, tỷ lệ đòn bẩy, tỷ lệ thua lỗ, khối lượng vốn của công ty. Các bước phân tích định lượng được sử dụng trong nghiên cứu lần lượt là: thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan, phân tích hồi quy. Kết quả cho thấy, quy mô và khối lượng vốn có tác động cùng chiều, đáng kể tới ROA. Ngược lại, tỷ lệ đòn bẩy và tỷ lệ thua lỗ có ảnh hưởng nhưng trái chiều với khả năng sinh lợi.
Đối 4 với biến độc lập tuổi của công ty, không có mỗi quan hệ nào giữa biến này và khả năng sinh lợi của công ty. Omondi & Willy Muturi (2013), Factors Affecting the Financial Performance of Listed Companies at the Nairobi Securities Exchange in Kenya. Tác giả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính (ROA) của các công ty được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoáng Nairobi ở Kenya dựa trên báo cáo tài chính của 29 công ty giai đoạn 2006 - 2012. Thông qua các phương pháp thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan và hồi quy dữ liệu, nghiên cứu cho thấy đòn bẩy có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính, các yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính theo mức độ tăng dần như: tuổi công ty, khả năng thanh toán và quy mô doanh nghiệp.
Lý giải rằng, đòn bẩy chỉ tiêu cực với công ty ở mức báo động, nhưng nếu xác định và duy trì ở mức đòn bẩy tối ưu sẽ có lợi thế về thuế, yếu tố về tuổi, khả năng thanh toán và quy mô của công ty đều giúp công ty hoạt động hiệu quả hơn bởi tối ưu chúng sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh của công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực. Lucy Wamugo Mwangi (2014), Relationship between Capital Structure and Performance of NonFinancial Companies Listed In the Nairobi Securities Exchange, Kenya. Nghiên cứu điều ra về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức phi tài chính được niêm yết trên sàn Nairobi. Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2006 - 2012, từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 42 tổ chức phi tài chính.
Kết quả sau khi phân tích hồi quy cho thấy đòn bẩy tài chính tiêu cực đối với hiệu suất đo bằng ROA và ROE. Do đó, các nhà quản lý của các công ty phi tài chính niêm yết nên giảm phụ thuộc nợ dài hạn là khuyến nghị được đưa ra nhằm tăng hiệu quả hoạt động các tổ chức. Heni Boubaker & Nadia Sghaier (2014), How Do the Interest Rate and the Ináation Rate A§ect the Non-Life Insurance Premiums? Nhằm mục đích điều tra sự ảnh hưởng của lãi suất và lạm phát đối với các công ty bảo hiểm, nghiên cứu xem xét dữ liệu hàng năm của 14 quốc gia phát triển gồm: Mỹ, Canada, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Ý, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Bỉ, Áo, Đan Mạch, Úc và Na Uy giai đoạn 1965 - 5 2008. Kết quả cho thấy, trong thời kỳ phát triển, lãi suất được khẳng định tích cực đến phí bảo hiểm nhân thọ, lạm phát thì tiêu cực.
Và trong thời kỳ suy thoái thì ngược lại. Teklit Atsbeha Berhe & Jasmindeep Kaur (2017), Determinants of insurance companies’s profitability Analysis of insurance sector in Ethiopia. Mục đích chính của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty bảo hiểm ở Ethiopia. Dữ liệu phân tích trong bài có phạm vi 10 năm của 17 công ty bảo hiểm, giai đoạn từ 2005 - 2014.