Chương I: Tổng quan về NHTM và hiệu quả HĐKD của NHTM. Chương : Thực trạng hiệu quả HĐKD của CBAVN. Chương : Giải pháp nâng cao hiệu quả HĐKD của CBAVN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM ở nhiều quốc gia và tại Việt Nam thì khái niệm này được định nghĩa qua từng thời kỳ trong các văn bản pháp quy sau đây: - Theo pháp lệnh NH năm 1990: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán…” - Luật số 02/1997/QH10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam Điều 10: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. - Luật số 47/2010/QH12 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 quy định: “Ngân hàng thương mại” là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận (khoản 3 Điều 4) và “hoạt động ngân hàng” là hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ: (i) nhận tiền gửi; (ii) cấp tín dụng; và (iii) cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản (khoản 12 Điều 4). Theo đó, tùy theo loại hình hoạt động, TCTD có thể thực hiện một hoặc một số hoặc cả ba hoạt động ngân hàng nêu trên khi được NHNN cấp Giấy phép thành lập và hoat động. Tóm lại, NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, là tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế.
Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của NHTM, đến lượt mình thì sự phát triển của hệ thống NHTM trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Chức năng của ngân hàng thương mại NHTM là một trong những định chế tài chính trung gian quan trọng với các chức năng: Trung gian tài chính: NHTM với vai trò là nơi gặp gỡ và tập hợp chuyển các nguồn vốn tiết kiệm nhàn rỗi của cá nhân, tổ chức kinh tế thặng dư tiêu dùng thành nguồn vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, tiêu dùng và đầu tư của cá nhân, tổ chức kinh tế khác đang tạm thời thâm hụt chi tiêu. Với chức năng này, NHTM đã góp phần làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm, đồng thời làm giảm phí tổn tín dụng hình thành nếu người đầu tư phải tự tìm kiếm nguồn vốn nhàn rỗi nên từ đó mà góp phần khuyến khích đầu tư. Trung gian thanh toán: NHTM trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia.
Thay mặt khách hàng, NHTM thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ một cách nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, NHTM đã cung cấp cho khách hàng những hình thức thanh toán đa dạng cũng như thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau thông qua NHTW hoặc qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả thanh toán qua NHTM, biến NHTM trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.3 Các loại hình ngân hàng thương mại NHTM được chia thành nhiều loại hình đa dạng căn cứ theo các tiêu chuẩn như sau: 1.1 Dựa vào hình thức sở hữu: theo tiêu thức này có thể phân loại NHTM thành NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài trong đó: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- NHTM quốc doanh là NHTM do Nhà nước đầu tư vốn 100% để thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của Nhà nước. NHTM cổ phần: là NHTM được thành lập dưới hình thức và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó có các doanh nghiệp Nhà nước, TCTD, các tổ chức kinh tế và cá nhân khác cùng góp vốn theo quy định của NHNN.
Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Ngân hàng liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng mẹ, không có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được ngân hàng mẹ bảo đảm bằng văn bản về việc chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: là ngân hàng được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ).
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam.2 Dựa vào chiến lược kinh doanh: căn cứ vào mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng, vào các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho khách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- hàng để chia NHTM thành ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ và ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ, cụ thể: Ngân hàng bán buôn: là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp. Ngân hàng bán lẻ: là ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng cá nhân. Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả đối tượng khách hàng doanh nghiệp lẫn khách hàng cá nhân.3 Dựa vào lĩnh vực hoạt động: NHTM được phân chia thành: Ngân hàng chuyên doanh: Loại hình ngân hàng này chỉ tập trung cung cấp một số dịch vụ ngân hàng như cho vay nông nghiệp, cho vay xây dựng cơ bản… Do tính chuyên môn hóa cao nên ngân hàng có được đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ. Tuy nhiên, loại hình ngân hàng này gặp rủi ro lớn khi lĩnh vực kinh doanh của khách hàng hoạt động sa sút.
Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: Là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng cho mọi đối tượng khách hàng. Đây là xu hướng chủ yếu hiện nay của các NHTM, do tính đa dạng sẽ giúp NHTM tăng thu nhập và hạn chế rủi ro.4 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại 1.1 Nghiệp vụ trong bảng tổng kết tài sản 1.1 Nghiệp vụ nguồn vốn (Nghiệp vụ nợ): bao gồm các thành phần nguồn vốn như sau: Vốn điều lệ và các quỹ (Vốn tự có) Theo thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD thì: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- - Vốn tự có (Vốn cấp 1) gồm: Vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp); quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ; quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ; lợi nhuận không chia; thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có), trong đó loại trừ các khoản như: lợi thế thương mại; khoản lỗ kinh doanh, bao gồm các khoản lỗ lũy kế; Các khoản góp vốn, mua cổ phần của TCTD khác; các khoản góp vốn, mua cổ phần của công ty con… - Vốn tự có bổ sung (Vốn cấp 2): 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật; 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật; quỹ dự phòng tài chính; trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành thỏa mãn các điều kiện quy định cụ thể trong thông tư. Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất, nó vừa cho thấy qui mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng. Vốn huy động: Theo nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM thì NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước. Nhận tiền gửi là hoạt động thường xuyên của NHTM và là hoạt động rất quan trọng đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với nền kinh tế. Ta biết rằng, trong nền kinh tế luôn tồn tại một bộ phận tiền nhàn rỗi trong dân chúng và trong các tổ chức kinh tế, xã hội, bộ phận này nếu được huy động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- tập trung sẽ tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế. Các NHTM, với vai trò và vị trí của mình là một trung gian tài chính đứng ra huy động tập trung nguồn tiền nhàn rỗi để cung cấp vốn đầu tư cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của NHTM bao gồm: + Vốn vay trong nước: - Vay ngân hàng trung ương: NHTW sẽ tiếp vốn cho NHTM thông qua biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiết khấu có chất lượng. Làm như vậy, NHTW sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đối với NHTM. - Vay các ngân hàng thương mại khác thông qua thị trường liên ngân hàng (Interbank Market). + Vốn vay ngân hàng nước ngoài.