CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG. Tổng quan về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường nói chung và trong hệ thống ngân hàng tring gian nói riêng. Đề cập về khái niệm ngân hàng thương mại, có nhiều cách phát biểu khác nhau: - Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những doanh nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ tín dụng, chứng khoán hay dịch vụ tài chính. - Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. - Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, định nghĩa: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Vai trò – chức năng. * Vai trò: - Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính thực hiện chức năng tập trung các nguồn tiền, vốn nhàn rỗi trong xã hội và phân phối các nguồn vốn nói trên vào nền kinh tế; 7 - Là một trung gian thanh toán, thể hiện qua vai trò cụ thể: cung cấp các phương tiện, tiện ích thanh toán cho các chủ thể trong xã hội; giảm bớt lượng lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế; - Là người đại diện, thay mặt cho khách hàng trong một số giao dịch: bảo lãnh, đai lý dịch vụ ngân quỹ, thu chi hộ, mua bán sản phẩm do các tổ chức khác ủy thác như hợp đồng bảo hiểm…; - Là kênh để thực hiện các chính sách kinh tế, tài chính của chính phủ, điển hình nhất là chính sách tiền tệ. * Chức năng: - Chức năng trung gian tài chính: là chức năng quan trọng va cơ bản nhất của một NHTM, cho thấy bản chất và nhiệm vụ chính của NHTM, đồng thời là hoạt động quan trọng trong nền kinh tế vì ngân hàng đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và sử dụng nguồn vốn này để cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và đầu tư cho các ngành kinh tế và vốn tiêu dùng trong xã hội.
- Chức năng tạo tiền, tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối tiền tệ cho nền kinh tế. - Chức năng sản xuất bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng thương mại 1. Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là một trong những hoạt động cơ bản, có vai trò rất quan trọng đối với bất kỳ NHTM nào vì nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng đa số trong nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.
NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau đây: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các hình thức tiền gửi thanh toán khác; 8 - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; - Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng nước ngoài; - Vay vốn ngắn hạn của NHNN; - Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN. Hoạt động cấp tín dụng Là hoạt động chủ chốt của ngân hàng và có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế - xã hội, thông qua hoạt động tín dụng NHTM đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho nền kinh tế, kích thích nền kinh tế phát triển nhanh hơn. Hoạt động tín dụng của một NHTM bao gồm: cho vay ngắn, trung và dài hạn đối với cá nhân, tổ chức nhằm đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống và thực hiện các dự án đầu tư; chiết khấu giấy tờ có giá; bảo lãnh ngân hàng; cho thuê tài chính. Ngoài ra còn có các hình thức tín dụng khác như thấu chi, góp vốn, đồng tài trợ… 1.
Hoạt động thanh toán và ngân quỹ Là hoạt động quan trọng và mang tính đặc thù của NHTM, nhờ vào hoạt động này mà các giao dịch thanh toán của toàn bộ nền kinh tế được thực hiện một cách thông suốt và thuận lợi hơn; đồng thời góp phần hạn chế lượng tiền mặt lưu hành trong nền kinh tế. Hoạt động thanh toán và ngân quỹ của NHTM với các hoạt động chính gồm: cung cấp phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế cho khách hàng; thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ; dịch vụ ngân quỹ như kiểm đếm, bảo quản và vận chuyển tiền mặt; các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN. Các hoạt động kinh doanh khác Bao gồm: góp vốn mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, ủy thác và nhận ủy thác, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, lập dự 9 án đầu tư, bảo quản vật quý giá … 1. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả kinh doanh. * Hiệu quả: Theo định nghĩa trong cuốn “ Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt” trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh thì “ hiệu quả - efficiency” trong kinh tế được định nghĩa là “ mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử sụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí, bằng cách đạt được đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu hóa sử dụng đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho.
Ở mức cao hơn, mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hóa doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào và đầu ra sao cho cực đại hóa lợi nhuận. * Hiệu quả kinh doanh: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất. Như vậy, hiệu quả kinh doanh phải là một đại lượng so sánh: so sánh giữa đầu vào với đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra với kết quả kinh doanh thu được. Biểu hiện cao nhất của hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả hoạt động.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh mang lại và được đo bằng lượng lợi nhuận mang lại trên một chi phí đầu 1 vào hay lượng lợi nhuận mang lại trên một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả sản xuất. Ở góc độ này, hiệu quả hoạt động phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động là biểu hiện cao nhất của hiệu quả kinh doanh vì mục đích cuối cùng của kinh doanh là lợi nhuận. Vai trò của hiệu quả kinh doanh.
Đối với ngân hàng. Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu mà mọi ngân hàng đều hướng tới trong quá trình hoạt động, được thể hiện cụ thể qua yếu tố lợi nhuận, và nó mang ý nghĩ sống còn đối với hoạt động của một ngân hàng. Ngân hàng chỉ tồn tại và phát triển được khi nó tạo ra lợi nhuận, nếu một ngân hàng hoạt động không có hiệu quả, thu không đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra thì ngân hàng đó sẽ dần đi đến chỗ phá sản. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt và khốc liệt, vì vậy hiệu quả kinh doanh vừa là mục tiêu của các ngân hàng trong quá trình hoạt động, vừa là động lực để các ngân hàng không ngừng hoàn thiện bản thân nhằm nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của chính mình.
Hiệu quả kinh doanh càng cao thể hiện sức mạnh về tài chính của ngân hàng càng vững chắc, ngân hàng sẽ có thêm điều kiện để mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, thực hiện đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh, tạo đà nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng. Kinh doanh hiệu quả tạo điều kiện nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho cán bộ nhân viên; là động lực to lớn kích thích tinh thần làm việc, phát huy cao nhất sự sáng tạo và khả năng của nhân viên đối với hoạt động của ngân hàng, là cơ sở cho những bước phát triển tiếp theo. Hiệu quả kinh doanh còn là một trong những công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị ngân hàng thực hiện các chức năng của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc kinh doanh đạt ở mức độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện 1 pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng thu nhập và giảm chi phí nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Do vậy, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra, đánh giá và phân tích nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất để thực hiện các mục tiêu mà ngân hàng đề ra. Đối với nền kinh tế.