CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp viễn thông 1. Dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm ngày càng quen thuộc và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thông qua việc tạo ra giá trị đóng góp cho nền kinh kế quốc gia.
Nhận ra tầm quan trọng của dịch vụ, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tập trung nghiên cứu lĩnh vực này từ đầu thập niên 1980. Tuy nhiên, do dịch vụ có nhiều tính chất phức tạp nên cho đến bây giờ, vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh nào về dịch vụ mặc dù đây là một lĩnh vực kinh tế lớn nhất hiện nay. Một số khái niệm dịch vụ có thể kể đến là: Theo từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”. (Từ điển Tiếng Việt, 2004) Theo Philip Kotler và Amstrong (2004) đã đưa ra định nghĩa về dịch vụ: “Một dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao sở hữu nào cả”.
Theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu vầu và mong đợi của khách hàng:.TS Nguyễn Văn Thanh (2007) cho rằng: Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hóa, phong phú hóa, khác biệt hóa, nổi trội hóa… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hóa kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”. Như vậy có thể thấy dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là hoạt động có tính đặc thù riêng của con người trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thực tế khó có thể phân biệt dịch vụ với hàng hóa vì khi mua một hàng hóa người mua cũng nhận được lợi ích của một yếu tố dịch vụ đi kèm. Đồng thời một dịch vụ cũng thường được kèm theo một hàng hóa hữu hình làm cho dịch vụ tăng thêm giá trị.2 Đặc điểm của dịch vụ - Tính vô hình:Dịch vụ không phải là hàng hóa cụ thể mà mang tính vô hình, đối với sản phẩm hữu hình, khách hàng có thể nhìn, sờ và thử nó trước khi mua nhưng với sản phẩm dịch vụ giác quan của khách hàng không thể nhìn thấy, không cầm được dịch vụ trước khi tiêu dùng.
Do bản chất vô hình của dịch vụ, sự cảm nhận trở nên cực kỳ quan trọng trong việc khách hàng đánh giá chất lượng. Đây chính là điểm bất lợi khi cung cấp một sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. Điều này có ảnh hưởng lớn đến chính sách về Marketing dịch vụ của các nhà cung cấp. - Tính không tách rời gữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ: Khác với hàng hóa hữu hình là việc sản xuất và tiêu dùng một sản phẩm được thực hiện riêng rẽ, đối với dịch vụ thì quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ này xảy ra đồng thời.
Đối với sản phẩm vật chất, người tiêu dùng có thể từ chốimua sản phẩm có chất lượng kém. Tuy nhiên, đối với dịch vụ, do đặc điểm sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời cho nên chất lượng dịch vụ sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới người tiêu dùng, dù muốn, dù không khách hàng vẫn phải tiêu thụ những dịch vụ do nhà cung cấp tạo ra. Người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho cả hai bên, người cung cấp tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ. - Tính không đồng đều về chất lượng: Chất lượng dịch vụ dao động trong một khoảng rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ.
Người ta không thể tiêu chuẩn hóa chất lượng dịch vụ. Dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hóa nên nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất. Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ nên khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng dịch vụ. Dịch vụ càng nhiều người phục vụ thì lại càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng.
Chính vị vậy sự tuyển chọn, đào tạo nhân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 viên có trình độ, có kỹ năng giao tiếp có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ của nhà cung cấp. - Tính không dự trữ được: Người ta khô ng thểdựtrữdịch vụtrong kho để đáp ứng nhu cầu thị trường trong tương lai giống như hàng hóa vật chất, do vậy không thể sản xuất hàng loạt. Khách hàng cũng không thể mua dự trữ dịch vụ để sử dụng khi cần. Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp.
Chính vì vậy nhà cung cấp cần dự báo chính xác nhu cầu tiêu dùng dịch vụ, thời điểm sử dụng dịch vụ để có thể cung cấp cho khách hàng kịp thời, chính xác và có chất lượng dịch vụ cao. - Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi mua một dịch vụ, khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. Đặc tính này ảnh hưởng đến chính sách phân phối trong Marketing dịch vụ, trong đó người bán buôn, bán lẻ cũng không được quyền sở hữu, họ đơn thuần chỉ là người tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ. Khái quát về hiệu quả kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp viễn thông 1.
Khái niệm doanh nghiệp viễn thông Doanh nghiệp viễn thông là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật trong các lĩnh vực cung cấp các dịch vụ viễn thông; sản xuất thiết bị, vật liệu viễn thông; xuất nhập khẩu, cung ứng thiết bị, vật liệu viễn thông và tư vấn, khảo sát, thiết kế và xây dựng công trình viễn thông. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông a. Khái niệm hoạt động kinh doanh viễn thông Thuật ngữ “Viễn thông” được ghép bởi hai từ là communication (nghĩa là liên lạc) và tele (nghĩa là xa) được đưa ra vào năm 1904. Thuật ngữ viễn thông dùng để chỉ tập hợp các thiết bị, giao thức để truyền thông tin từ nơi này đến nơi khác, mà ở đó, sẽ có một máy phát ở nguồn, thông tin được truyền qua kênh truyền, để đến đích, nơi đó có một máy thu.
Nhiệm vụ của viễn thông là truyền thông tin nhanh, chính xác, có tính bảo mật cao, đáp ứng tốt các nhu cầu thông tin của mọi người. Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về hoạt động kinh doanh viễn thông. Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của viễn thông thì có thể hiểu hoạt động kinh doanh viễn thông là các hoạt động thực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hiện một hoặc một số công đoạn truyền đưa tin tức nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh (doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông) trên thị trường. Đặc điểm dịch vụ viễn thông - Tính phi vật chất của dịch vụ viễn thông Dịch vụ viễn thông cũng giống như các dịch vụ khác, có tính phi vật chất.
Để thực hiện được việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, ngành viễn thông phải sử dụng các công cụ vật chất như: tổng đài, các thiết bị đầu cuối (điện thoại, máy fax, máy tính…). Tuy nhiên, bản chất dịch vụ viễn thông thì không nhìn thấy được. Đó là sự truyền đi các thông tin được mã hóa mà mắt người không thể nhìn thấy. Dịch vụ viễn thông không tồn tại ngoài quá trình sản xuất, nên không thể đưa vào kho, không thể thay thế được, do vậy có những yêu cầu rất cao đối với chất lượng dịch vụ.
Do đặc điểm dịch vụ viễn thông không phải là vật chất cụ thể nên để tạo ra dịch vụ các doanh nghiệp viễn thông không cần đến những nguyên vật liệu chính như các ngành khác mà chỉ cần sử dụng các vật liệu phụ điều này ảnh hưởng đến cơ cấu chi phí sản xuất kinh doanh: Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng nhỏ, chi phí lao động sống chiếm tỷ trọng lớn., để nâng cao hiệu quả kinh doanh cần áp dụng những biện pháp sao cho phù hợp. - Quá trình sản xuất kinh doanh viễn thông mang tính dây chuyền Quá trình truyền đưa tin tức là quá trình diễn ra từ hai phía (người gửi tin và người nhận tin ở các địa điểm khác nhau). Do vậy, để thực hiện một đơn vị dịch vụ viễn thông cần có nhiều người. Đặc điểm của ngành viễn thông là quá trình sản xuất của nó được phân bố trên khắp lãnh thổ đất nước, thậm chí tại nhiều quốc gia khác nhau chứ không chỉ giới hạn trong một doanh nghiệp, một công ty.
Để cung cấp dịch vụ viễn thông cho khách hàng cần có sự phối hợp của nhiều đơn vị liên quan trong ngành viễn thông tham gia, mỗi đơn vị thực hiện một công việc nhất định trong quá trình truyền đưa tin tức hoặc là giai đoạn đi, hoặc là giai đoạn đến, giai đoạn trung gian. Từng cơ quan riêng biệt nói chung không thể tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh cũng như hiệu quả có ích cho người sử dụng nhưng nó thực hiện những công việc cần thiết để xử lý lưu lượng, phục vụ hệ thống chuyển mạch và đường truyền dẫn, kết quả cuối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cùng là đảm bảo hoàn thành dịch vụ - sản phẩm hoàn chỉnh.