phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu gồm 4 chương: Chƣơng 1: Lý luận chung về kiểm tra thuế và những vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ở Việt Nam. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2011-2013. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra tại Chi cục Thuế thành phố Cẩm Phả trong thời gian tới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ 1. Cơ sở lý luận của công tác kiểm tra thuế - Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh Kinh tế ngoài quốc doanh là một khu vực kinh tế bao gồm các thành phần kinh tế phi nhà nước, vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế này thuộc tư nhân. Như vậy doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các Công ty hợp danh, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân. - Đặc điểm doanh nghiệp ngoài quốc doanh Đặc điểm dễ nhận thấy của doanh nghiệp ngoài quốc doanh là số lượng doanh nghiệp nhiều, ngành nghề kinh doanh phong phú, đa dạng và tồn tại dưới nhiều hình thức như Công ty cổ phần, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân.
Quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường nhỏ, vốn ít, tổ chức bộ máy thường gọn nhẹ, linh hoạt. - Vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần không nhỏ trong công cuộc sản xuất, tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng góp số thu không nhỏ vào NSNN hàng năm đồng thời góp phần tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Khái niệm về kiểm tra thuế Hoạt động quản lý Nhà nước chính là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý - cơ quan thuế (CQT) tới các đối tượng quản lý - đối tượng nộp thuế (ĐTNT) nhằm đạt được mục tiêu động viên một phần thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước.
Do vậy, kiểm tra thuế chính là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động lãnh đạo quản lý Nhà nước của cơ quan Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Hoạt động quản lý của cơ quan thuế bao gồm từ việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch trong giai đoạn nhất định đến việc tổ chức để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó và sau cùng là tiến hành kiểm tra thuế, việc thực hiện đó như thế nào để từ đó tác động ngược trở lại từ khâu xác định chủ trương kế hoạch có hợp lý hay không nhằm đảm bảo cho hoạt động của cơ quan thuế đạt được hiệu quả cao. Kiểm tra thuế là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ. Kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô hình chức năng.
Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai tự nộp thuế của người nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế. Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội. Đặc điểm, vai trò, mục tiêu và nguyên tắc của kiểm tra thuế 1. Đặc điểm cơ bản của hoạt động kiểm tra đối tượng nộp thuế Phạm vi kiểm tra thuế là khá rộng; đối tượng kiểm tra thuế rất đa dạng, trên mọi lĩnh vực của ngành kinh tế.
Kiểm tra thuế là công việc rất khó khăn phức tạp vì ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của đối tượng được kiểm tra thuế. ĐTNT thường xuyên tìm mọi cách nhằm trốn thuế, lách và tránh thuế, gây khó khăn cho công tác kiểm tra. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 Công tác kiểm tra thuế đòi hỏi cao về năng lực, chuyên môn và phẩm chất đạo đức công chức thuế. Vai trò của kiểm tra thuế Kiểm tra đối tượng nộp thuế có một số vai trò cơ bản sau: - Kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật, tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế.
- Với chức năng là công cụ thực hiện quản lý nhà nước kiểm tra thuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cơ quan và các cá nhân có thực hiện đúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế không? Qua đó thực hiện các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừacác hành vi vi phạm pháp luật của ĐTNT. - Kiểm tra đối tượng nộp thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về thuế. Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau. Mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản lý thu khác nhau.
Về cơ bản, khi mỗi sắc thuế được ban hành đều đã được nghiên cứu kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi từ hành chính, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập. Chính vì vậy, kiểm tra thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực tế, để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách cho phù hợp. Thực tế cho thấy, không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không có cơ sở khiếm khuyết. Đây chính là nguyên nhân để các đối tượng cố Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 tình lách luật để trục lợi cá nhân do đó kiểm tra phải phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực để ngăn chặn kịp thời.
- Kiểm tra đối tượng nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện, giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết gây phiền hà cho doanh nghiệp, tiếp thu được những kiến nghị của người nộp thuế về chính sách pháp luật về thuế để kiến nghị sửa đổi hoàn thiện hơn. Mục tiêu của kiểm tra thuế Hoạt động kiểm tra thuế nhằm vào các mục tiêu sau: - Bảo vệ lợi ích của nhà nước, bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân khi thực hiện chính sách pháp luật thuế. - Giúp các đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách. - Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của các đối tượng nộp thuế và người thu thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực.
- Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra, cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện nhằm đưa Luật thuế vào cuộc sống, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế đồng thời cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế phát hiện ra những hạn chế chưa đồng bộ về cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sử đổi, bổ sung, sử đổi các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp lý hơn. - Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ đối tượng nộp thuế nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế cũng như nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế thi hành công vụ. Thông qua công tác kiểm tra nội bộ nhằm kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa những hành vị tiêu cực, tham nhũng phát sinh để xây dựng cơ quan thuế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 10 với đội ngũ cán bộ thuế trong sạch, vững mạnh về phẩm chất đạo đức, giỏi về nghiệp vụ chuyên môn. Nguyên tắc kiểm tra thuế - Nguyên tắc tuân thủ các quy định của pháp luật Kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật.
Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế nhằm chặn tình trạng làm trái pháp luật. Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan thuế và cán bộ kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng, sai của các đối tượng được kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất kỳ một cơ quan hoặc cá nhân nào. Kết luận kiểm tra theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật. - Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan Tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác kiểm tra, đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật.
Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thực, đánh giá sự vật hiện tượng nghiêm túc, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một các thận trọng. Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư; không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỷ mỷ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn. - Nguyên tắc công khai dân chủ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.