Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ THUẾ NỘI ĐỊA ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Tổng quan về thuế và quản lý thuế 1. Những vấn đề cơ bản về thuế 1. Khái niệm và bản chất của Thuế Trong các sách báo kinh tế thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế.
Nhiều quan điểm đưa ra chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù này. Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn gián, C.Mác đã chỉ rõ: “ Để duy trì quyền lực cộng đồng đó cần có sự đóng ghóp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế má…” Một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn “kinh tế học” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhel và Bruy như sau” Thuế là khoản chuyển giao bằng hàng hóa dịch vụ cuả các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ và trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt do hành vi vi phạm pháp luật”( 15, tr.6) Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “tài chính công” đã đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển:” Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng ghóp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước”(15, tr,6-7) 7 Luan van Mặc dù còn nhiều định nghĩa khác nhau, song nếu khái quất chung để tìm hạt nhân hợp lý của từng quan điểm, có thể rút ra một số dặc trưng của thuế như sau: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa nhà nước với pháp nhân và các cá thể trong xã hội. Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước. Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Từ những nội dung trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng ghóp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng của của thuế, qua đó giúp chúng ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác. Những đặc trưng đó là: Tính bắt buộc: Tính bắt buộc là tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách Nhà nước. Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph E.Stiglitz cho rằng: Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc.7) Tính chất bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những lý do sau: 8 Luan van Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế gắn với các lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển giao.
Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng. Nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhập phải chuyển giao. Thứ hai, trong xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên cộng đồng về hàng hóa công cộng ngày càng tăng mà phần lớn hàng hóa này lại do Nhà nước cung cấp. Để duy trì hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng thì thu nhập về hàng hóa công cộng từ những người thụ hưởng phải bù đắp các chi phí bỏ ra.
Những hàng hóa công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng và người thụ hưởng cũng không muốn sử dụng theo khẩu phần. Mặt khác, hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị trường để bù đắp các chi phí. Chính vì thế trong việc cung cấp hàng hóa công cộng đã xuất hiện những người “ người ăn không”, nghĩa là không có ai tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hóa công cộng. Do đó, để đảm bảo cung cấp hàng hóa công cộng Nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để bắt buộc tất cả mọi người, kể cả “ người ăn không” phải chuyển giao thu nhập của mình sang khu vực công.
Tính không hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chổ: Thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế.
Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do không 9 Luan van được hoặc ít được sử dụng các dịch vụ công cộng. Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi được thừa hưởng các dịch vụ công cộng hơn so với số thuế mà họ phải trả và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do đã thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này. Đặc điểm này giúp người ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản phí, lệ phí và tín dụng Nhà nước. Tính pháp lý cao: Đặc điểm này thể hiện thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao.
Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước, Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. Vì vậy, để bắt buộc các công dân“ tự nguyện” nộp thuế thì Nhà nước phải sử dụng đến quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật. Nhà kinh tế học Joseph E.Stiglitz nói rằng: “ Việc chuyển giao bắt buộc này giống như là ăn trộm, chỉ có điểm khác chủ yếu là trong khi cả hai cách chuyển đều là không tự nguyện, thì cách chuyển qua Chính phủ có mang tấm áo choàng hợp pháp và sự tôn trọng do các quá trình chính trị ban cho”.8] Tuy nhiên, để sự chuyển giao bắt buộc thông qua thuế diễn ra được “êm thấm”, mặc dù quá trình đó được thực hiện dưới sự bảo vệ của Luật pháp, thì những quy định của Pháp luật cũng không được mang tính tùy tiện mà phải dựa trên những cơ sở khoa học nhất định. Vì vậy, trong Luật thuế thường xác định trước các yếu tố có tính chất điều chỉnh hành vi nộp thuế: Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác.
Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế. Từ những thuộc tính đó giúp ta phân biệt 10 Luan van thuế với các hình thức động viên khác của NSNN trên nhiều phương diện khác nhau. Chức năng của thuế Chức năng của một sự vật hay đối tượng nào đó là sự thể hiện công dụng vốn có của nó. Đối với một phạm trù kinh tế chức năng phản ánh bản chất sự tác động của nó, là một phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có của phạm trù.
Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng. Cho đến nay trên các sách báo kinh tế trong nước cũng như trên thế giới cũng chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của thuế và tên gọi chung. Có tác giả đưa ra hai chức năng của thuế là chức năng ngân khố và chức năng kinh tế. Người khác lại cho rằng thuế có ba chức năng: ngân khố, kiểm tra và phân phối thu nhập, trong đó chia chức năng phân phối thu nhập thành nhiều chức năng nhỏ hơn bao gồm cả nội dung kích thích kinh tế.
Trong chức năng kinh tế của thuế, một số tác giả lại chia chức năng này thành nhiều tiểu chức năng và chúng lại được xem xét là một chức năng độc lập: Điều chỉnh, kích thích, phân phối thu nhập và chức năng ngân khố. Một số tác giả còn đưa ra chức năng xã hội của thuế với tư cách là một chức năng độc lập phản ánh bản chất xã hội của thuế. Với quan niệm như vậy, soi rọi vào quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy thuế luôn thực hiện hai chức năng cơ bản: Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước và chức năng điều tiết kinh tế.9] - Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Ngay từ lúc phát sinh thuế luôn có công dụng là phương tiện động viên nguồn tài chính cho Nhà nước, người ta gọi công dụng này là chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế. 11 Luan van Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho tất cả các dạng Nhà nước.
Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế. Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội. - Chức năng điều tiết kinh tế Chức năng điều tiết kinh tế của thuế mặc dù có cơ sở nãy sinh từ chức năng huy động tập trung nguồn lực, nhưng chỉ được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX khi vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước được thực hiện.