Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ỦY BAN KIỂM TRA HUYỆN ỦY 1. Một số vấn đề chung về công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng 1. Khái niệm kiểm tra, giám sát trong Đảng Khái niệm kiểm tra được đề cập trong Từ điển tiếng Việt, “kiểm tra là tra xét kỹ lưỡng xem có đúng hay không. Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [39, tr182].
Khái niệm về kiểm tra của Đảng được quy định tại Điểm 1.1, Khoản 1, Điều 30, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Chương VII và VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng có nêu: “Kiểm tra của Đảng là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Khái niệm “giám sát” được đề cập trong Từ điển tiếng Việt, Từ điển Bách khoa Việt Nam như sau: Theo Từ điển tiếng Việt: “Giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” [25, tr389]. 10 Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam có nói: “Giám sát là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó…”[26, tr112]. Khái niệm về giám sát của Đảng được quy định tại Điểm 1.1, Khoản 1, Điều 30, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Chương VII và VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng có nêu: “Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng quan sát, theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.
Như vậy, ta có thể hiểu kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo mà không kiểm tra, giám sát thì coi như không có lãnh đạo. Kiểm tra, giám sát của Đảng là việc các cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, bảo đảm cho hoạt động đúng quỹ đạo, mục tiêu, yêu cầu đã được xác định, góp phần phục vụ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng và mối quan hệ giữa kiểm tra và giám sát trong Đảng Vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng - Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng Thực tiễn đã khẳng định, lãnh đạo không chỉ là đề ra chủ trương, đường lối, tổ chức thực hiện, bố trí cán bộ, động viên tư tưởng, mà còn phải kiểm tra, giám sát.
Bất kỳ tổ chức nào, muốn tồn tại và phát triển đều phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thuộc phạm vi lãnh đạo, 11 quản lý của mình. Đối với Đảng Cộng sản, không những kiểm tra, giám sát việc thực hiện Cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách, mà còn phải kiểm tra, giám sát ngay bản thân Cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách đó và kiểm tra, giám sát cả các tổ chức tiến hành kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm đường lối chính sách được xác định đúng, được quán triệt và thực hiện thắng lợi trong thực tiễn; được điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc; vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là trách nhiệm, nội dung, phương pháp, quy trình lãnh đạo của Đảng. Trong suốt quá trình hoạt động, Đảng không những luôn coi trọng mà còn xác định kiểm tra, giám sát là những chức năng, nội dung lãnh đạo của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã khẳng định: Kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, muốn lãnh đạo tốt thì phải tăng cường việc kiểm tra, xem xét để kịp thời phát hiện những kinh nghiệm thành công hoặc thất bại mà kịp thời bổ sung, hoàn thiện cho công tác lãnh đạo của mình, lãnh đạo mà không kiểm tra thì xem như không có lãnh đạo. Công tác kiểm tra, giám sát là khâu rất quan trọng vì nó là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo; đồng thời là một bộ phận rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng cũng như trong toàn bộ công tác lãnh đạo của Đảng. Trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền thì càng phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Điều 30, Điều lệ Đảng nêu rõ: “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng.
Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát. Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng”. - Kiểm tra, giám sát là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng bắt 12 nguồn từ sự đoàn kết, thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Việc xây dựng Đảng ta vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức luôn là đòi hỏi cấp thiết và có tính khách quan. Muốn vậy, phải luôn tự đổi mới và tiến hành đồng bộ các mặt công tác xây dựng Đảng. Trong đó, phải coi trọng và thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng. Qua thực tiễn, Đảng ta đã khẳng định: Công tác kiểm tra, giám sát là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền.
Báo cáo xây dựng Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã rút ra một trong năm bài học kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng, trong đó khẳng định công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là: “Đảng phải tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng để phát huy ưu điểm, phòng ngừa và khắc phục kịp thời sai lầm, khuyết điểm; kiểm tra, giám sát công tác, năng lực và phẩm chất của cán bộ, đảng viên,. - Công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ của toàn Đảng, là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của mọi tổ chức đảng và đảng viên Công tác kiểm tra, giám sát là công tác đảng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, được tiến hành đối với tổ chức đảng và đảng viên. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định: Kiểm tra, giám sát và giữ gìn kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng.
Các tổ chức đảng, trước hết là các cấp uỷ đảng, cần tự mình tiến hành kiểm tra, giám sát và sử dụng các ban để tổ chức thường xuyên nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ của toàn Đảng, tức là của mọi tổ chức đảng và đảng viên, tiến hành theo quy định của Điều lệ Đảng và sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền. Để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi các cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp phải chú trọng và thường 13 xuyên tiến hành công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng. Đảng ta là Đảng cầm quyền.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Sự lãnh đạo của Đảng được tiến hành thông qua tổ chức và đảng viên đang hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Mỗi tổ chức đảng phải xây dựng, tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát; đảng viên dù công tác ở lĩnh vực, cương vị nào đều phải tham gia kiểm tra, giám sát khi được tổ chức đảng có thẩm quyền phân công và chịu sự kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của mọi tổ chức đảng và đảng viên.
Mối quan hệ giữa kiểm tra và giám sát của Đảng - Sự giống nhau giữa kiểm tra và giám sát: Kiểm tra, giám sát đều là hoạt động của nội bộ đảng, do cấp uỷ, tổ chức đảng và uỷ ban kiểm tra thực hiện. Nội dung kiểm tra và giám sát: Đều là việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đối tượng kiểm tra, giám sát: Đều là tổ chức đảng và đảng viên. Mục đích kiểm tra, giám sát: Đều nhằm phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; chủ động phòng ngừa khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên.
Định kỳ đều có báo cáo với cấp uỷ về tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định. - Sự khác nhau giữa kiểm tra và giám sát + Về mục đích: Kiểm tra Giám sát 14 - Mục đích của kiểm tra là để - Là việc các cấp uỷ, tổ chức làm rõ đúng, sai. Sau kiểm tra phải đảng theo dõi, xem xét, đánh giá có kết luận và xử lý (nếu có vi phạm hoạt động của tổ chức đảng và đảng đến mức phải xử lý). viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, - Kiểm tra là có thể có vi chính sách pháp luật của Nhà nước.
phạm rồi mới tiến hành kiểm tra, - Là việc làm thường xuyên, hoặc có vụ việc vi phạm xảy ra từ liên tục để chủ động phòng ngừa, những năm trước, nay phát hiện mới ngăn chặn xảy ra vi phạm từ lúc mới tiến hành kiểm tra để kết luận đúng, manh nha; phát hiện, góp ý đối sai.