Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TÌM KIẾM THÔNG TIN 1.1 Giới thiệu về hệ thống tìm kiếm thông tin Chương này đưa ra định nghĩa hệ thống lưu trữ và tìm kiếm thông tin (nói ngắn gọn là hệ thống tìm kiếm thông tin - HTTKTT), mục tiêu, chức năng, các cấu trúc dữ liệu thường sử dụng trong hệ thống thông tin (HTTT) và các kỹ thuật tìm kiếm hướng người dùng.1 Định nghĩa hệ thống tìm kiếm thông tin Hệ thống tìm kiếm thông tin là một hệ thống có khả năng lưu trữ, tìm kiếm và bảo trì thông tin. Thông tin có thể bao gồm văn bản (dữ liệu số và ngày tháng), hình ảnh, âm thanh, video và nhiều đối tượng đa phương tiện khác. Thuật ngữ Information Retrieval (IR) tạm dịch là tìm kiếm thông tin, trong đó ứng dụng quan trọng nhất là tìm kiếm các tài liệu được người sử dụng quan tâm trong cơ sở dữ liệu (bao gồm việc tìm kiếm và sắp xếp thứ tự các tài liệu liên quan theo độ tương tự), đặc biệt là trong các công cụ tìm kiếm. Đôi khi thuật ngữ này được hiểu như toàn bộ quá trình, từ việc xử lý tới phân lớp và tìm kiếm tài liệu.
Các HTTKTT không giống các hệ thống trả lời câu hỏi ở chỗ nó chỉ ra sự tồn tại và vị trí các tài liệu có chứa thông tin cần thiết. Những tài liệu được hệ thống trả lời, thoả mãn yêu cầu của người sử dụng được gọi là các tài liệu liên quan (relevant document). Một hệ thống tìm kiếm hoàn hảo sẽ chỉ tìm và đưa ra các tài liệu liên quan, mà không đưa ra các tài liệu ít có liên quan. Tuy nhiên, trên thực tế các hệ thống này không tồn tại bởi cách biểu diễn câu hỏi không đầy đủ và mức độ liên quan phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của từng người.
Hai người sử dụng có thể cùng đưa ra một truy vấn với một hệ Hệ thống trợ giúp tìm kiếm thông tin – Vũ Thị Việt Thanh 7 thống thông tin và sau đó, sẽ có những đánh giá khác nhau về mức độ liên quan trên các tài liệu đã tìm được. Nhiệm vụ của HTTKTT là giải quyết các vấn đề như biểu diễn, lưu trữ, tổ chức và truy cập đến các mục thông tin theo yêu cầu của người sử dụng. Một HTTKTT bao gồm ba quá trình cơ bản sau: biểu diễn nội dung tài liệu, biểu diễn yêu cầu của người sử dụng và so sánh hai biểu diễn này để tìm các tài liệu phù hợp với câu hỏi truy vấn. Phản hồi Các truy vấn Bộ xử lý Đầu ra Đầu vào Các tài liệu Hình 1.1: Mô hình của hệ thống tìm kiếm thông tin Biểu diễn tài liệu thường gắn với quá trình đánh chỉ mục (indexing).
Công việc này thường dẫn đến chỉ lưu trữ một phần tài liệu trong hệ thống để phục vụ tìm kiếm, chẳng hạn như phần tiêu đề và phần tóm tắt. Diễn đạt yêu cầu người sử dụng gọi là quá trình biểu đạt câu hỏi truy vấn (query formulation process). Câu hỏi truy vấn thể hiện sự tương tác giữa hệ thống và người sử dụng, do đó HTTKTT cần có một cơ chế thuận tiện và hiệu quả để người sử dụng biểu diễn nội dung yêu cầu của mình. Việc so sánh câu hỏi truy vấn với tài liệu được gọi là quá trình so khớp (matching process) và kết quả đưa ra của hệ thống là một danh sách các tài liệu được sắp xếp theo thứ tự mức độ liên quan với truy vấn.
Hệ thống trợ giúp tìm kiếm thông tin – Vũ Thị Việt Thanh 8 Như vậy, để mô tả thông tin yêu cầu một cách đầy đủ, người sử dụng không thể trực tiếp truy vấn thông tin bằng cách sử dụng các giao diện hiện có của hệ thống, mà phải chuyển đổi các yêu cầu này thành một câu hỏi truy vấn để hệ thống tìm kiếm có thể hiểu và thực hiện được. Thông thường, phép chuyển đổi này tạo ra một tập các thuật ngữ mô tả khái quát yêu cầu của người sử dụng. Để tìm kiếm thông tin hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng, HTTKTT cần phải “hiểu” được các nội dung của tài liệu trong cơ sở dữ liệu (CSDL) và sắp xếp theo mức độ phù hợp với câu hỏi truy vấn. Sự “hiểu biết” nội dung tài liệu này bao gồm việc trích chọn thuật ngữ, biểu diễn các thuật ngữ này trong không gian ngữ nghĩa và sử dụng chúng để so sánh với yêu cầu của người sử dụng.
Để xây dựng một hệ thống tìm kiếm có hiệu quả cao, trước hết các tài liệu và câu hỏi truy vấn ở dạng ngôn ngữ tự nhiên cần phải được tiền xử lý và chuẩn hóa. Quá trình tiền xử lý dữ liệu thường bao gồm các thao tác chính là loại bỏ các từ dừng trong danh sách, loại bỏ các từ chỉ xuất hiện duy nhất một lần trong toàn bộ CSDL và lấy gốc của từ (đối với các ngôn ngữ mà các từ có hậu tố). Việc loại bỏ các từ dừng đồng nghĩa với việc giảm số chiều của không gian lưu trữ và biểu diễn, do đó làm tăng chất lượng của HTTKTT. Các từ có tần suất xuất hiện quá thấp trong CSDL cũng cần được loại bỏ vì nó mang lại rất ít giá trị thông tin trong quá trình xử lý.
Thông thường, các hệ thống đều thực hiện loại bỏ những thuật ngữ chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong CSDL để tăng hiệu năng xử lý và giảm kích thước lưu trữ dữ liệu. Hệ thống trợ giúp tìm kiếm thông tin – Vũ Thị Việt Thanh 9 Quá trình lấy gốc từ (stemming) cũng có tác dụng làm giảm số chiều của không gian lưu trữ. Trong nhiều trường hợp, tài liệu có độ phù hợp cao nhất so với câu hỏi truy vấn lại không chứa thông tin mà người sử dụng đang tìm kiếm. Chính vì lý do này, thông tin phản hồi rất quan trọng khi muốn tăng chất lượng của hệ thống tìm kiếm.
Một số công cụ tìm kiếm văn bản cao cấp xây dựng riêng một giao diện để thu thập các thông tin phản hồi của người sử dụng để thay đổi trọng số của văn bản, từ đó nâng cao chất lượng của hệ thống. Hầu hết các công cụ tìm kiếm chỉ tập trung vào các quá trình đầu, còn quá trình thu thập thông tin phản hồi chỉ được phát triển bởi một số công cụ tìm kiếm phức tạp và có tài nguyên đủ mạnh để thực hiện.2 Mc tiêu của hệ thống tìm kiếm thông tin Mục tiêu chung của HTTKTT là cực tiểu hóa chi phí người dùng trong việc định vị các thông tin họ cần. Chi phí có thể hiểu là thời gian người sử dụng dùng để thực hiện tất cả các bước, đưa ra được tài liệu có chứa thông tin cần thiết (chẳng hạn đưa ra truy vấn, thực hiện truy vấn, quét các kết quả của truy vấn để chọn ra các tài liệu cần đọc, đọc các tài liệu không liên quan). Trong một số trường hợp, thông tin cần thiết được hiểu là tất cả các thông tin trong hệ thống có liên quan đến yêu cầu của người dùng.
Trong một số trường hợp khác, nó có thể hiểu là có đủ thông tin để hoàn thành công việc, thậm chí ngay cả khi dữ liệu bị mất. Mục đích đầu tiên của HTTKTT là hỗ trợ tìm kiếm người dùng. Có những trở ngại khách quan tới việc xác định chính xác được thông tin người dùng cần như: sự nhập nhằng cố hữu trong ngôn ngữ, giới hạn trong khả năng biểu diễn thông tin cần và sự khác nhau giữa vốn từ vựng của người dùng trong CSDL. Ngôn ngữ tự nhiên hay bị nhập nhằng như từ đồng âm khác nghĩa và sử dụng các từ viết tắt giống nhau nhưng nghĩa khác nhau.
Đã có Hệ thống trợ giúp tìm kiếm thông tin – Vũ Thị Việt Thanh 10 những kỹ thuật giải quyết nhập nhằng nhưng đòi hỏi chi phí hệ thống trong khả năng xử lý, tìm kiếm mở rộng và thường yêu cầu giao tiếp với người dùng. Người sử dụng có thể gặp rắc rối khi đưa ra một phát biểu tìm kiếm phù hợp. Chẳng hạn không có kinh nghiệm, khả năng hiểu và biểu đạt phát biểu logic Boolean. Việc sử dụng logic Boolean kế thừa trong quá trình phát triển hệ quản trị CSDL.
Cho đến nay, các hệ thống thương mại (như RetrievalWare, TOPIC, AltaVista, Infoseek và INQUERY) vẫn dựa trên tiếp cận CSDL, sử dụng các truy vấn ngôn ngữ tự nhiên. Điều này cho phép người sử dụng biểu đạt rõ ràng bằng ngôn ngữ tự nhiên điều họ đang quan tâm tìm kiếm. Nhưng tính đầy đủ của yêu cầu người sử dụng thường bị giới hạn bởi tính sẵn có trong hệ thống để xây dựng các truy vấn ngôn ngữ tự nhiên dưới dạng một mệnh đề hoàn chỉnh. Trong hầu hết ứng dụng, người sử dụng Internet chỉ gõ một hoặc hai thuật ngữ tìm kiếm.
Dữ liệu đa phương tiện cũng là nguyên nhân làm tăng độ phức tạp tìm kiếm. Vấn đề là tạo lập cách thức chuyển các dữ liệu đó thành văn bản để các kỹ thuật thao tác tìm kiếm văn bản chuẩn vẫn có thể áp dụng được. Tuy vậy, khi truy vấn tìm kiếm hình ảnh, âm thanh hoặc đoạn video, không có phương pháp chuyển đổi nào là tốt cả. Thông thường, chúng biểu diễn thông qua các mẫu lưu trữ về đối tượng trong phương tiện truyền thông để cho người dùng lựa chọn khi tìm kiếm.
Ngoài những khó khăn phức tạp khi biểu đạt truy vấn, người sử dụng hoàn toàn không phải là một chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn đang tìm kiếm thông tin. Họ thiếu vốn từ vựng để tham chiếu đến vùng đối tượng quan tâm cụ thể. Người sử dụng bắt đầu quá trình tìm kiếm với những khái niệm tổng quát về thông tin yêu cầu, nhưng khó thể hiện chính xác cái họ cần. Kiến thức từ vựng giới hạn liên quan tới lĩnh vực chuyên biệt, đòi hỏi không tập Hệ thống trợ giúp tìm kiếm thông tin – Vũ Thị Việt Thanh 11 trung chính xác vào thông tin cần thiết dẫn đến sử dụng không chính xác và trong một vài trường hợp sai lạc thuật ngữ tìm kiếm.
Thậm chí ngay cả khi người sử dụng là một chuyên gia trong lĩnh vực tìm kiếm, khả năng lựa chọn các thuật ngữ tìm kiếm đúng đắn cũng bị giới hạn do thiếu kiến thức về từ vựng và yếu về khả năng diễn đạt. Điều này cũng khá hạn chế trong lĩnh vực tìm kiếm thông tin kỹ thuật, bởi từ vựng của người dùng có thể không phù hợp từ vựng của tác giả khi tạo lập văn bản ban đầu. Người sử dụng thường sử dụng với các truy vấn đơn giản, nên tỉ lệ thất bại có thể lên tới 50%.