Chương I Tổng quan về hệ thống thông tin cáp sợi quang 1.1 Lịch sử phát triển của hệ thống thông tin cáp sợi quang Như chúng ta đã biết môi trường truyền dẫn trong kỹ thuật thông tin có thể là có dây hoặc không dây. Tương ứng với tín hiệu truyền trên các môi trường đó là tín hiệu điện, quang hay sóng điện từ. Trong thông tin cáp sợi quang, thông tin từ nguồn phát được biến đổi thành tín hiệu quang sau đó được truyền trên cáp sợi quang dưới dạng ánh sáng và đến đầu thu thông tin được biến đổi trở lại thành tín hiệu điện. Tháng 2/1960 Maiman chế tạo ra Laser Rubi, tháng 6/1960 Javan chế tạo ra Laser He-Ne và năm 1962 Basov, Prokhonov chế tạo ra Laser bán dẫn được ứng dụng trong thông tin cáp sợi quang.
Nhưng các tham số truyền dẫn của môi trường này thay đổi theo nhiệt độ, độ ẩm, áp suất làm thông tin không ổn định. Đến năm 1970 người ta đã chế tạo thành công những sợi quang đầu tiên có độ suy hao nhỏ hơn 20dB/km và cuộc cách mạng công nghệ sợi quang bắt đầu. Năm 1977 hệ thống thông tin quang bắt đầu được dùng cho truyền thoại, truyền số liệu tương tự, điện thoại hình và dịch vụ video. Cùng năm đó hãng NTT công bố loại sợi quang có độ suy hao 0,5dB/km tại bước sóng λ =1200nm.
Năm 1980 và 1982 các hệ thống thông tin đường trục sử dụng cáp 9 sợi quang 45Mbit/s và 90 Mbit/s đã được lắp đặt. Năm 1983 AT&T chế tạo thành công sợi đơn mode. Năm 1985 sản xuất sợi quang công tác tại bước sóng λ =1550nm cùng với việc lắp đặt hệ thống siêu đường trục gồm 8 kênh video/1 sợi và năm 1987 là 16 kênh video/1 sợi, dung lượng hệ thống năm 1986 đã là 560Mbit/s. Cho đến năm 1988 các hệ thống vẫn dựa trên cơ sở ghép kênh không đồng bộ, chủ yếu dựa vào các chuẩn giao tiếp DS-1 và DS-3, chưa có chuẩn giao tiếp quang.
Năm 1989 xuất hiện các chuẩn giao tiếp mạng quang đồng bộ SONET giúp cho việc thiết kế các hệ thống thông tin cáp sợi quang SDH được thuận lợi.2 Cấu trúc của một hệ thống thông tin cáp sợi quang Một tuyến truyền dẫn cáp quang thường bao gồm các phần tử được mô tả như hình 1.1 [43] TÝn hiÖu ®iÖn vµo Bé ph¸t quang Bé nèi Bé chia quang quang M¹ch Nguån ®iÒu ph¸t khiÓn quang Sîi Bé t¸ch hoÆc quang ghÐp quang Tr¹m lÆp KhuyÕch ®¹i quang T¸ch Kh«i sãng phôc quang tÝn hiÖu TÝn hiÖu ®iÖn ra Bé thu quang Hình 1.1 Sơ đồ của một hệ thống thông tin quang 10 Hệ thống thông tin cáp sợi quang có cấu trúc tương tự như các hệ thống thông tin khác gồm : Phần phát, môi trường truyền và phần thu. Với hệ thống thông tin cáp sợi quang thì môi trường truyền dẫn là cáp sợi quang- có nhiệm vụ truyền ánh sáng mang tín hiệu thông tin từ phía phát đến phía thu. Hiện nay các hệ thống thông tin cáp sợi quang chủ yếu là truyền dẫn tín hiệu số. Phần phát quang bao gồm nguồn phát quang và các mạch điều khiển phát quang.
Phần thu quang bao gồm bộ tách sóng quang, mạch khuếch đại điện và mạch khôi phục tín hiệu. Phần truyền dẫn quang bao gồm sợi quang, các bộ nối, bộ chia, các trạm lặp, các trạm tách và ghép quang. Các nguồn quang cơ bản sử dụng cho hệ thống thông tin cáp sợi quang có thể là Laser điốt (LD) hoặc điốt phát quang (LED). Tín hiệu quang phát ra từ LD hoặc LED có tham số biến đổi tương ứng với biến đổi của tín hiệu điện vào.
Tín hiệu điện vào có thể phát ở dạng số hoặc tương tự. Thiết bị phát quang sẽ thực hiện biến đổi tín hiệu điện vào thành tín hiệu quang tương ứng, công suất quang ra phụ thuộc vào biến đổi của cường độ tín hiệu quang. Tín hiệu quang sau khi đã được điều chế ở khối nguồn phát sẽ lan truyền dọc theo sợi dẫn quang. Trong quá trình lan truyền, tín hiệu quang sẽ có thể bị suy hao và méo dạng qua các bộ ghép nối, mối hàn sợi và trên sợi do các yếu tố hấp thụ, tán xạ, tán sắc.
Độ dài của tuyến truyền dẫn tuỳ thuộc vào mức suy hao sợi quang theo bước sóng. Khi khoảng cách truyền dẫn dài, tín hiệu quang bị suy giảm nhiều thì cần phải đặt thêm các trạm lặp quang để khuếch đại tín hiệu. Trạm lặp gồm các thiết bị thu, biến đổi quang - điện, khuếch đại điện và phát lại quang vào đường truyền tiếp theo. Các trạm lặp có thể được thay thế bằng các bộ khuếch đại quang.
Phần thu quang gồm các bộ tách sóng quang tiếp nhận tín hiệu quang, tách lấy tín hiệu thu được từ phía phát, biến đổi thành tín hiệu điện. Trong phần này thường sử dụng các photodiode PIN hoặc 11 photodiode APD vì chúng có hiệu suất làm việc cao và tốc độ biến đổi nhanh. Yêu cầu quan trọng nhất đối với bộ thu quang là công suất quang nhỏ nhất (độ nhạy thu quang) có thể thu được ở một tốc độ bit truyền dẫn tại một tỉ lệ lỗi bit BER nào đó.3 Ưu điểm của hệ thống thông tin sợi quang Hệ thống thông tin cáp sợi quang nhìn chung có một số ưu điểm nổi trội sau: Độ rộng băng tần truyền dẫn lớn. Tốc độ truyền dẫn cao.
Suy hao truyền dẫn thấp ( khoảng 0,35- 0,4 dB/km ở bước sóng 1300nm và 0,2-0,25 dB/km ở bước sóng 1500nm). Tín hiệu truyền dẫn trong cáp sợi quang không chịu ảnh hưởng của điện từ trường ngoài. Có tính bảo mật tín hiệu thông tin cao. Kích thước nhỏ, trọng lượng nhẹ, dễ uốn cong cho phép ghép nhiều sợi trong một lõi cáp và dễ lắp đặt.
Cho phép truyền dẫn khoảng cách lớn hơn các cáp kim loại và khoảng cách trạm lặp được xa hơn. 12 Chương 2 Kỹ thuật khuếch đại quang sợi Trong hệ thống thông tin cáp sợi quang khoảng cách lớn cần có các bộ lặp để khuếch đại tín hiệu trên đường truyền. Các trạm lặp ở đây thực hiện khuếch đại tín hiệu thông qua các quá trình biến đổi quang- điện và điện – quang. Khi mà tín hiệu quang rất yếu quá mức cho phép, sẽ được các trạm lặp thu lại, biến đổi thành tín hiệu điện, sau đó tiến hành xử lý tín hiệu điện này và cuối cùng là thực hiện biến đổi lại tín hiệu điện này thành tín hiệu quang đủ lớn để phát vào đường truyền.
Các trạm lặp này đã được ứng dụng khá rộng rãi và ở hầu hết các tuuyến thông tin quang trong thời gian vừa qua [18]. Trong hơn chục năm trở lại đây, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật người ta thực hiện được quá trình khuếch đại trực tiếp tín hiệu ánh sáng mà không cần qua quá trình biến đổi về điện nào, đó là kỹ thuật 13 khuếch đại quang. Kỹ thuật khuếch đại quang ra đời đã khắc phục được nhiều hạn chế của các trạm lặp như về băng tần, cấu trúc phức tạp, ảnh hưởng của tạp âm điện,. Việc áp dụng các bộ khuếch đại quang còn đưa ra một ý tưởng lớn cho qúa trình phát triển các tuyến thông tin hoàn toàn dùng khuếch đại quang và từ đó tiến tới phát triển các mạng toàn quang (All- optical networks).
Có nhiều loại khuếch đại quang như: Khuếch đại quang bán dẫn loại hốc cộng hưởng, khuếch đại quang bán dẫn sóng chạy và khuếch đại quang sợi EDFA,. Trong đó EDFA được sử dụng rộng rãi nhất trong các hệ thống thông tin cáp sợi quang ngày nay. Do vậy, trong Luận văn này chúng tôi sẽ nêu nguyên tắc hoạt động, các đặc điểm của chủ yếu của EDFA để làm tiền đề cho các nghiên cứu sau này, khi ứng dụng EDFA trong hệ thống thông tin quang.1 Kỹ thuật khuếch đại quang sợi EDFA Trong bộ khuếch đại quang sợi, người ta sử dụng một loại sợi quang được pha chất đặc biệt như Erbium (EDFA), Praseodymium (PDFA),. sợi này được gọi là DF(Doped Fibre) [17].
Các sợi này được xem như là các sợi tích cực vì chúng có thể thay đổi các đặc tính vật lý của chúng theo sự thay đổi của nhiệt độ, áp suất,. và có tính chất bức xạ ánh sáng. Một tính chất đặc biệt của sợi này là chúng có khả năng tự khuếch đại hoặc tái tạo tín hiệu nếu như có các kích thích phù hợp (hay được cung cấp nguồn bơm phù hợp). Các chất pha tạp để tạo thành sợi DF là các chất đất hiếm (rare earth).
Cơ chế của sợi pha tạp đất hiếm để trở thành bộ khuếch đại quang được thể hiện theo mô hình 3 hay là 4 mức: Khi một điện tử ở trạng thái cơ bản E1 được kích thích từ một nguồn bức xạ có bước sóng phù hợp, nó sẽ hấp thụ năng lượng và chuyển lên mức có năng lượng cao hơn E2. Từ mức này nó sẽ phân rã trực tiếp xuống trạng thái cơ bản theo cách bức xạ hoặc nếu như có một mức năng lượng thấp hơn E3 nó sẽ thả không bức xạ tới mức đó. Từ đây điện tử có thể phân rã xuống 14 mức E1 hoặc E4 thông qua quá trình bức xạ tự phát theo hình vẽ, trong đó năng lượng dư ra thu được nhờ sự phát photon có bước sóng dài hơn bước sóng kích thích. Nếu thời gian sống ở mức E3 đủ dài để các điện tử được nguồn bơm kích thích thì có thể xẩy ra nghịch đảo độ tích luỹ.
Đây là điều kiện để có một số các điện tử trên mức siêu bền E3 nhiều hơn mức tới (E1 hoặc E4). Một photon có năng lượng tương đương với sự chênh lệch mức năng lượng giữa mức E3 và E1 (3 mức) hay chênh lệch giữa mức E3 và E4 (4 mức) mà nó va chạm trên môi trường gây ra bức xạ kích thích của các phôton. Trong mô hình trên, tại điều kiện bình thường không có kích thích nào thì hầu hết các điện tử đều nằm trong trạng thái cơ bản E1. Như vậy nó sẽ dễ dàng tạo ra nghịch đảo nồng độ giữa các mức E3 và E4 hơn là giữa E3 và E1.
Vì vậy thông thường các giá trị ngưỡng ở các laser bốn mức thấp hơn các laser 3 mức. Có nhiều các ion đất hiếm có các dải huỳnh quang vì vậy chúng có khả năng bức xạ kích thích có khả năng được dùng để tạo ra sợi DF – ứng dụng cho khuếch đại quang. Ví dụ như Nd +3 có dải bức xạ ở 1,06 µ m và 1,32 µ m hay chất Er 3+ có dải bức xạ ở 1550nm và 2700nm,.v… Hiện nay các bộ khuếch đại quang pha tạp chất Er 3+ được ứng dụng rộng rãi nên ta sẽ xét các tính chất chủ yếu của bộ khuếch đại quang sợi EDFA.