CHƯƠNG 1 BỎ PHIẾU ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan về bỏ phiếu điện tử. Trong những năm gần đây, cả thế giới đang chứng kiến một cuộc cách mạng mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc đã làm thay đổi các hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội, thay đổi cả phương thức làm việc, học tập, giải trí, giao tiếp và quan hệ xã hội. Một trong những nội dung cơ bản của cuộc cách mạng này là ứng dụng công nghệ cao, hiện đại với công nghệ thông tin là công cụ có ý nghĩa quyết định, mang tính đột phá, góp phần rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
Trong đó mạng máy tính đã giúp cho con người tiếp cận, trao đổi những thông tin mới nhất một cách nhanh chóng, thuận tiện và nó đã mang lại cho con người những lợi ích không thể phủ nhận được. Một xã hội dân chủ có nhiều việc phải cần đến "bỏ phiếu", người ta "bỏ phiếu" để thăm dò các kế hoạch, chính sách nào đó hoặc để bầu cử các chức vụ, chức danh. Hiện nay có 2 loại bỏ phiếu chính là bỏ phiếu trực tiếp tại hòm phiếu bằng các lá phiếu in trên giấy ("bỏ phiếu truyền thống") và bỏ phiếu từ xa bằng các lá phiếu "số hoá" tạm gọi là lá phiếu điện tử từ các máy tính cá nhân trên mạng, điện thoại di động. Ngày nay, khoảng thời gian của mỗi cá nhân không nhiều, mặt khác một người có thể làm việc ở nhiều nơi, như vậy người ta khó có thể thực hiện được nhiều cuộc bỏ phiếu theo phương pháp truyền thống.
Rõ ràng "bỏ phiếu từ xa" đang và sẽ là nhu cầu cấp thiết, vấn đề này chỉ còn là thời gian và kỹ thuật cho phép. Cũng như bỏ phiếu truyền thống, bỏ phiếu thăm dò từ xa phải đảm bảo yêu cầu "bí mật", "toàn vẹn" và "xác thực" của lá phiếu. Kỹ thuật bỏ phiếu thăm dò từ xa dựa trên những lý luận rất sâu sắc về an toàn và bảo mật dữ liệu trên đường truyền tin. Mặt khác lá phiếu phải bảo đảm hợp pháp, lá phiếu đúng là của người được phép bầu cử, mỗi cử tri chỉ được gửi một lá phiếu.
Yêu cầu "bí mật" của lá phiếu là ngoài cử tri, chỉ có ban kiểm phiếu mới được biết nội dung của lá phiếu nhưng họ không biết chủ nhân của nó. 5 Yêu cầu "toàn vẹn" của lá phiếu trên đường truyền tin, nội dung lá phiếu không thể bị thay đổi, tất cả các lá phiếu đều được chuyển đến hòm phiếu an toàn, đúng thời hạn và được kiểm phiếu đầy đủ. Yêu cầu "xác thực" của lá phiếu gửi tới hòm phiếu phải hợp lệ, đúng là của người có quyền bỏ phiếu, cử tri có thể nhận ra lá phiếu của họ. Trải qua nhiều thế kỷ, đã có nhiều công nghệ bỏ phiếu khác nhau với những phương pháp và các hình thức khác nhau.
Từ những hòn đá và mảnh vỡ bỏ vào trong lọ thời Hy lạp được thay thế bằng lá phiếu bỏ vào trong hộp gắn niêm phong. Ngày nay, công nghệ mới phát triển việc bỏ phiếu, có thể tự động hoá. Việc bỏ phiếu tự động cần phải được bảo mật và an toàn như những cuộc bầu cử truyền thống (đặc biệt là bí mật riêng của lá phiếu). Phòng bỏ phiếu "cơ học" và những phiếu đục lỗ sẽ được thay thế bằng những lá phiếu "điện tử" để có thể kiểm phiếu nhanh hơn.
Bỏ phiếu điện tử trực tuyến qua Internet có lợi hơn rất nhiều. Các cử tri có thể bỏ phiếu từ bất cứ nơi đâu. Việc bỏ phiếu thuận tiện làm gia tăng số lượng cử tri. Nhanh chóng, rẻ và tiện lợi.
Quá trình bỏ phiếu có thể tác động lớn trên những xã hội dân chủ. Ví dụ những cuộc bầu cử cho phép công dân có thể bỏ phiếu vào bất cứ thời gian nào. Những phương pháp bỏ phiếu hiệu quả có thể phân loại bằng 2 cách tiếp cận chính sơ đồ sử dụng chữ ký mù và sơ đồ sử dụng mã hoá đồng cấu. Khái niệm về bỏ phiếu.
Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của người dân để chọn ra một cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền. Đây là cơ chế thông thường mà các nền dân chủ hiện dùng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, thỉnh thoảng ở bộ máy hành pháp, tư pháp, và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là một trong những chế định quan trọng trong ngành Luật Hiến pháp, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhà nước và cách phổ biến nhất là bỏ phiếu. Bỏ phiếu gồm: bỏ phiếu truyền thống và bỏ phiếu điện tử.
Khái niệm bỏ phiếu điện tử. Bỏ phiếu điện tử là phương pháp bỏ phiếu từ xa qua mạng thông qua máy tính, thiết bị di động. Bỏ phiếu từ xa luôn đảm bảo được tính bí mật, toàn vẹn và xác thực của lá phiếu. Kết quả bỏ phiếu được gửi ngay về chương trình kiểm phiếu tự động, kết quả bỏ phiếu được chương trình tự động tổng hợp theo thời gian thực và tất cả các thành viên đều có thể xem được báo cáo tổng hợp này.
Mỗi cử tri chỉ được bỏ phiếu một lần, mọi người đều có thể kiểm tra tính đúng đắn của cuộc bỏ phiếu, cử tri không thể chỉ ra mình đã bỏ phiếu cho ai để tránh cơ hội bán phiếu bầu. Ưu điểm của bỏ phiếu điện tử. - Cho phép bỏ phiếu từ xa. - Kiểm phiếu và thống kê kết quả nhanh.
- Loại bỏ các sai sót có thể có do thao tác bằng tay. - Bỏ phiếu điện tử sẽ đem đến sự thuận tiện, đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc. - Tạo điều kiện để các thành viên Hội đồng tham gia bỏ phiếu mọi lúc mọi nơi kể cả khi đang đi công tác nước ngoài 1. Hai bài toán bỏ phiếu điện tử thường gặp.
Hiện nay có 2 loại bỏ phiếu chính: - Bỏ phiếu trực tiếp tại hòm phiếu bằng các lá phiếu in trên giấy. - Bỏ phiếu từ xa bằng các lá phiếu “số hóa” tạm gọi là các lá phiếu điện tử từ các máy tính cá nhân trên mạng, trên điện thoại di động…Nó cũng được gọi là bỏ phiếu điện tử. Bỏ phiếu điện tử là bỏ phiếu bằng các phương pháp điện tử. Các hệ thống bỏ phiếu điện tử cho phép cử tri sử dụng các kỹ thuật mã hóa, để giữ bí mật lá phiếu điện tử trước khi chuyển đến hòm phiếu qua các kênh công khai.
Cử tri có thể bỏ phiếu qua Internet, các máy bỏ phiếu tự động. Yêu cầu chung của bỏ phiếu điện tử. Bỏ phiếu là việc người dùng phiếu để bày tỏ sự lựa chọn hay thái độ của mình trong cuộc bầu cử hoặc biểu quyết. Một cuộc bỏ phiếu thành công phải bảo đảm các tính chất: - Quyền bỏ phiếu: chỉ người có quyền bầu cử mới được bỏ phiếu.
Mỗi cử tri chỉ được bỏ phiếu một lần. - Bí mật: không thể biết được lá phiếu nào đó là của ai, trừ cử tri của nó. - Kiểm soát kết quả: có thể phát hiện được những sai sót trong quá trình bỏ phiếu. Cho đến nay các cuộc bỏ phiếu vẫn được thực hiện theo cách truyền thống, tuy nhiên với tốc độ phát triển của ngành công nghệ thông tin, đặc biệt là xu thế thực hiện “Chính phủ điện tử” thì việc “bỏ phiếu điện tử” thay thế phương thức truyền thống là điều sẽ diễn ra trong tương lai gần.
Ứng dụng mật mã trong bỏ phiếu điện tử 1. Tổng quan về mật mã 1. Giới thiệu Mật mã là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu các phương pháp truyền tin bí mật. Mật mã bao gồm : Lập mã và phá mã.
Lập mã bao gồm hai quá trình: mã hóa và giải mã. Để bảo vệ thông tin trên đường truyền người ta thường biến đổi nó từ dạng nhận thức được sang dạng không nhận thức được trước khi truyền đi trên mạng, quá trình này được gọi là mã hoá thông tin (encryption), ở trạm nhận phải thực hiện quá trình ngược lại, tức là biến đổi thông tin từ dạng không nhận thức được (dữ liệu đã được mã hoá) về dạng nhận thức được (dạng gốc), quá trình này được gọi là giải mã. Đây là một lớp bảo vệ thông tin rất quan trọng và được sử dụng rộng rãi trong môi trường mạng. Để bảo vệ thông tin bằng mật mã người ta thường tiếp cận theo hai hướng: - Theo đường truyền (Link_Oriented_Security).
8 Theo cách thứ nhất thông tin được mã hoá để bảo vệ trên đường truyền giữa hai nút mà không quan tâm đến nguồn và đích của thông tin đó. Ở đây ta lưu ý rằng thông tin chỉ được bảo vệ trên đường truyền, tức là ở mỗi nút đều có quá trình giải mã sau đó mã hoá để truyền đi tiếp, do đó các nút cần phải được bảo vệ tốt. Ngược lại theo cách thứ hai thông tin trên mạng được bảo vệ trên toàn đường truyền từ nguồn đến đích. Thông tin sẽ được mã hoá ngay sau khi mới tạo ra và chỉ được giải mã khi về đến đích.
Cách này mắc phải nhược điểm là chỉ có dữ liệu của người dùng thì mới có thể mã hóa được còn dữ liệu điều khiển thì giữ nguyên để có thể xử lý tại các nút. Vai trò của hệ mật mã Các hệ mật mã phải thực hiện được các vai trò sau: - Hệ mật mã phải che dấu được nội dung của văn bản rõ (PlainText) để đảm bảo sao cho chỉ người chủ hợp pháp của thông tin mới có quyền truy cập thông tin (Secrety), hay nói cách khác là chống truy nhập không đúng quyền hạn. - Tạo các yếu tố xác thực thông tin, đảm bảo thông tin lưu hành trong hệ thống đến người nhận hợp pháp là xác thực (Authenticity). - Tổ chức các sơ đồ chữ ký điện tử, đảm bảo không có hiện tượng giả mạo, mạo danh để gửi thông tin trên mạng.
Ưu điểm lớn nhất của bất kỳ hệ mật mã nào đó là có thể đánh giá được độ phức tạp tính toán mà “kẻ địch” phải giải quyết bài toán để có thể lấy được thông tin của dữ liệu đã được mã hoá. Tuy nhiên mỗi hệ mật mã có một số ưu và nhược điểm khác nhau, nhưng nhờ đánh giá được độ phức tạp tính toán mà ta có thể áp dụng các thuật toán mã hoá khác nhau cho từng ứng dụng cụ thể tuỳ theo dộ yêu cầu về độ an toàn. Các thành phần của một hệ mật mã : Định nghĩa : Một hệ mật là một bộ 5 (P,C,K,E,D) thoả mãn các điều kiện sau: - P là một tập hợp hữu hạn các bản rõ (PlainText), nó được gọi là không gian bản rõ.