Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về văn hóa công sở. Chương 2: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND huyện Lâm Thao Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển văn hóa công sở tại UBND huyện Lâm Thao. 4 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HOÁ CÔNG SỞ 1. Khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ của công sở 1.
Khái niệm: Tổ chức là tập hợp một số người hoặc nhóm người có cùng mục đích, có quan hệ với nhau theo những nguyên tắc nhất định và hoạt động trong các phạm vi khác nhau Cơ quan là một tổ chức có cơ cấu chặt chẽ và chức năng cụ thể, có quy chế hoạt động, có thứ bậc trong quá trình hoạt động Công sở là cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, thành lập theo luật định, có trụ sở, có công sản và nhân sự để hoạt động. Công sở được quyền sử dụng quyền lực nhà nước để thực thi công vụ. Công sở là một pháp nhân. Một số cách hiểu khác: + Theo nghĩa rộng: là cơ quan trong bộ máy nhà nước nói chung (Văn phòng Quốc hội, HĐND các cấp, Chính phủ và hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân các cấp).
+ Theo nghĩa hẹp: Chính phủ và hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (HCNN). + Nghĩa hẹp hơn: trụ sở Như vậy, công sở là nơi được dùng để tổ chức các cơ chế kiểm soát công việc hành chính, quản lý các mặt của đời sống xã hội, là nơi soạn thảo và xử lý các văn bản để phục vụ cho công việc chung, đảm bảo các thông tin cho hoạt động của bộ máy nhà nước, nơi phối hợp các bộ phận cán bộ theo một cơ chế nhất định để thực hiện một nhiệm vụ. 5 z Công sở là tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước hoặc tổ chức công ích được nhà nước công nhận. Công sở có vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, có cơ cấu tổ chức do luật công quy định, được nhà nước giao công sản và nhân lực, được sử dụng công quyền để tổ chức công việc nhà nước hoặc dịch vụ công vì lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng.
Đặc điểm của công sở - Có vị trí pháp lý nhất định - Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể do nhà nước quy định và chịu sự kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền - Nằm trong quan hệ theo thứ bậc để đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất và quan hệ ngang theo chức năng để đảm bảo phối hợp giữa các ngành, lĩnh vực với địa phương, vùng lãnh thổ. - Phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước và nhân dân, không vụ lợi. - Có các điều kiện và phương tiện cần thiết để thực hiện công vụ. Nhiệm vụ của công sở - Quản lý công vụ theo pháp luật; - Tổ chức nhân sự, phối hợp công việc giữa các bộ phận trong công sở; - Tổ chức công tác thông tin trong công sở và ngoài công sở; - Nâng cao kỹ thuật và nghiệp vụ hành chính, tổ chức công việc nề nếp, có hiệu lực và hiệu quả; - Cung cấp điều kiện, phương tiện căn cứ vào đặc điểm lao động của từng loại công việc được phân công; - Bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ an ninh trật tự, an toàn trong công sở; - Tổ chức kế toán thống kê; 6 z - Quản trị hậu cần.
Văn hoá tổ chức Quan điểm của nhiều nhà khoa học quản lý cho rằng, khi nghiên cứu về văn hóa công sở, cần dựa trên sự kế thừa và phát triển của khoa học và tư tưởng quản lý, nghĩa là cần xem xét khái niệm văn hóa công sở trong mối liên hệ chặt chẽ với văn hoá tổ chức, đồng thời tính đến đặc trưng riêng xuất phát từ đặc thù của công sở. Vì vậy, trước hết chúng ta phải hiểu được văn hoá là gì, vai trò của nó đối với sự phát triển con người, xã hội; văn hoá tổ chức là gì để từ đó có cơ sở để tìm hiểu về văn hoá công sở. Khái niệm văn hoá Văn hóa là một khái niệm có ngoại diên rất rộng lớn bao gồm nhiều loại đối tượng, tính chất và hình thức biểu hiện khác nhau. Bởi vậy, cho đến nay, có đến hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa.Herriot nhận xét, “là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả”.
Việc xác định được những nội dung đúng và đủ của khái niệm văn hóa là công việc rất khó khăn. Nhưng chúng ta không nên chấp nhận một thái độ “bất khả tri” về văn hóa. Vấn đề là ở chỗ cần vạch ra những thuộc tính bản chất để nhận diện văn hóa là gì, những cái nào được gọi là văn hóa cũng như văn hóa khác với các khái niệm liên quan với nó (văn minh, xã hội, kinh tế…) như thế nào. Văn hóa có một số thuộc tính và nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, văn hóa là thuộc tính bản chất của con người, chỉ có ở loài người và do con người sinh ra.
Văn hóa dùng để chỉ đặc điểm và nhân tố nhân tính, nhân văn chung của loài người, nó có trong tất cả các mối quan hệ, hoạt động và sản phẩm của con người. 7 z Thứ hai, đối với một cộng đồng, dân tộc, văn hóa luôn có tính đặc thù, nó được thể hiện ra như một kiểu sống (lối sống, kiểu ứng xử và hành động…) riêng biệt và ổn định của họ trong lịch sử; nó có tính di tồn qua nhiều thế hệ. Thứ ba, cốt lõi của văn hóa và nhân tố quy định tính đặc thù của kiểu sống khác nhau trong xã hội là bảng giá trị của họ. Đó là một hệ thống các giá trị, gồm ba loại giá trị chính là: chân - thiện - mỹ với nội dung có nhiều yếu tố khác nhau và được xếp theo những thang bậc khác nhau ở mỗi cộng đồng người.
Tóm lại, từ sự phân tích trên có thể rút ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con người, là kiểu sống và bảng giá trị của các tổ chức, cộng đồng người, trung tâm là các giá trị chân - thiện - mỹ”. Vai trò của văn hóa Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của con người: Vai trò của văn hóa là sự hiện thực hóa các chức năng của văn hóa trong đời sống cá nhân và xã hội. Vai trò của văn hóa thường được nhận diện qua sự so sánh với các nhân tố khác nhau (kinh tế, kỹ thuật, công nghệ hoặc ở mức khái quát hơn là văn minh), mặc dù những nhân tố - yếu tố này không hẳn là phi văn hóa. Con người và xã hội không phải là hai khái niệm loại trừ nhau hoặc khác nhau về căn bản; trái lại chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau và về cơ bản, trùng nhau.
Bởi vì, con người là một khái niệm chỉ một cá nhân, một cộng đồng người hoặc cả (xã hội) loài người; mặt khác “xã hội là sản phẩm của mối quan hệ giữa người với người” (C.Mác) bao gồm sự liên kết giữa người với người ở nhiều quy mô tổ chức khác nhau: gia đình, tổ chức xã hội vi mô (lớp học, trường học, công ty, cơ quan…), tổ chức xã hội vĩ mô (quốc gia, khối các quốc gia) và toàn thể loài người. 8 z Nghiên cứu vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của con người hoặc xã hội cần xem xét nó ở ba phương diện và phạm vi cơ bản: (1) cá nhân; (2) tổ chức xã hội vi mô; (3) tổ chức xã hội vĩ mô - quốc gia. Vai trò của văn hóa đối với đời sống và sự phát triển của các cá nhân Văn hóa là điều kiện và là nhân tố quyết định tới sự hình thành và hoàn thiện nhân cách của các cá nhân. Như đã phân tích ở trên, văn hóa là thuộc tính đặc trưng của loài người, nó chỉ có được khi có mối quan hệ giữa người với người; nói cách khác văn hóa có tính xã hội.
Đối với một cá thể người thì cái bản chất xã hội của họ - tính người hay văn hóa - không phải là cái có sẵn như nước, không khí, ánh sáng, cây cỏ… trên trái đất. Thực tế đã xác nhận điều này: một đứa trẻ bị tách khỏi xã hội ngay từ khi mới sinh ra, phải sống với bầy thú (gấu, chó sói) một thời gian dài đã không có tính người, chúng chỉ có tâm lý của động vật. Tâm lý học cũng nhấn mạnh rằng nhân cách - bản chất xã hội của mỗi cá nhân - không phải là sản phẩm tự thân của con người, nó không sẵn có ở mỗi con người khi mới sinh ra. Con người cá nhân chỉ trở thành chủ thể hoạt động xã hội khi nhân cách của họ đã được định hình rõ và để đạt tới trạng thái phát triển này thì họ phải trải qua một quá trình hoạt động trong môi trường xã hội.
Về mặt thời gian thì lứa tuổi có nhân cách trưởng thành là tuổi thành niên (khoảng từ 16-18 tuổi). Giáo dục là phương thức và con đường chính để hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, để con người thực sự là người. Giáo dục như chúng ta đã biết là chức năng cơ bản của văn hóa. Bản chất của giáo dục là việc “trồng người”, là việc chuyển tải cái nội dung văn hóa của loài người (tri thức khoa học, giá trị, hành vi ứng xử…) vào mỗi cá nhân một cách thích hợp, để cá nhân đó trở nên sống đẹp, có giá trị, tức là sống có văn hóa.
Theo cách diễn đạt của tâm lý học, giáo dục chính là con đường để “xã hội hóa” cá nhân, để 9 z hình thành nhân cách của cá nhân. Đương nhiên, giáo dục không phải chỉ là dạng hoạt động được thực hiện bởi các thầy cô giáo và trong phạm vi nhà trường, nó cần có sự tham gia của gia đình, cộng đồng xã hội. Mặt khác, việc học không chỉ là hoạt động của lứa tuổi thiếu niên, thanh niên với nội dung tiếp thu tri thức, nó còn có nghĩa rộng hơn là sự tu dưỡng để không ngừng hoàn thiện nhân cách, là công việc suốt đời của mỗi cá nhân. Văn hóa là môi trường xã hội của mỗi cá nhân, là điều kiện không thể thiếu được đối với đời sống của con người.
Con người nếu thiếu văn hóa - thể hiện qua sự giao lưu giữa người với người - thì sẽ không có nhân tính, nhân cách.