Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SÁT TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. KHÁI NIỆM TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1. Tạm giữ Theo Từ điển Luật học năm 2006 thì: "tạm giữ được hiểu là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để cách ly họ với xã hội trong thời gian cần thiết nhằm ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người này đối với tội phạm" [54]. Theo Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, đối tượng bị tạm giữ là những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.
Tuy nhiên không phải bất cứ trường hợp nào người bị bắt theo các trường hợp trên đều bị tạm giữ mà tùy tính chất mức độ của hành vi nguy hiểm cho xã hội mà có thể bị tạm giữ hoặc không tạm giữ. Căn cứ để ra Quyết định tạm giữ chính là việc bắt quả tang, bắt khẩn cấp theo đúng trình tự thủ tục tại Điều 81, 82 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, tự thú, đầu thú, bắt truy nã và căn cứ tính chất mức độ của hành vi phạm tội thì có thể ra quyết định tạm giữ hoặc không tạm giữ. Trong trường hợp người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vẫn có thể bị tạm giữ khi có đủ căn cứ theo luật định nhưng chỉ trong các trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng [44, Điều 303]. Người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ chính là những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp được Thủ trưởng, phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng và chỉ huy vùng cảnh sát biển có quyền ra lệnh tạm giữ [44, Điều 86].
Thời hạn tạm giữ được quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự, theo đó: "Thời hạn tạm giữ không được quá 03 ngày kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt" [44]. Như vậy, thời hạn tạm giữ được tính theo ngày và thời điểm nhận người bị bắt chỉ có ý nghĩa tính ngày bị tạm giữ vì thời hạn sẽ hết vào lúc 24h. Khi người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ thì quyết định tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 12 giờ, quyết định phải ghi rõ lý do tạm giữ ngày hết hạn tạm giữ, Viện kiểm sát xem xét tính có căn cứ, cần thiết của quyết định tạm giữ, nếu thấy quyết định tạm giữ không có căn cứ, không cần thiết thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ đó và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Những trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định tạm giữ là trường hợp người bị tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã; người bị tạm giữ chỉ vi phạm hành chính hoặc pháp luật dân sự; người bị tạm giữ là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nhưng phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trong do vô ý; người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang nhưng có đủ chứng cứ, tài liệu chứng minh họ không phạm tội.
Thời hạn tạm giữ có thể được gia hạn 02 lần, mỗi lần không quá 03 ngày trong những trường hợp cần thiết và đặc biệt như chưa củng cố được tài liệu, nhân thân, tính chất mức độ hành vi của tội phạm và mọi trường hợp gia hạn tạm giữ phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trong thời hạn 12 giờ. Trong thời hạn 12 giờ Viện kiểm sát cùng cấp phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, khi Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ hoặc không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Thời hạn tạm giữ đó sẽ được trừ vào 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời hạn tạm giam theo quy định một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam. Việc quy định thời hạn tạm giữ như vậy nhằm mục đích hạn chế tình trạng lạm dụng tạm giữ và bảo đảm tính khách quan, có căn cứ và cần thiết của việc tạm giữ.
Từ những nghiên cứu và phân tích trên đây thì có để đưa ra khái niệm: tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do những chủ thể có thẩm quyền theo luật định áp dụng trong trường hợp cần thiết đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đang bị truy nã nhằm ngăn ngừa và xử lý tội phạm kịp thời. Tạm giam Theo quy định tại Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền ở Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng; phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn chứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Theo quy định tại Quy chế về tạm giữ, tạm giam được ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 thì tạm giữ, tạm giam là những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng nhằm buộc những người có Lệnh tạm giữ hoặc Lệnh tạm giao cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc đảm bảo thi hành án phạt tù hoặc án tử hình [14, Điều 1]. Như vậy, tạm giam không phải là hình phạt tù vì mục đích của tạm giam không những ngăn ngừa bị can, bị cáo phạm tội mới hoặc trốn tránh mà còn đảm bảo cho cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử bị cáo được chính xác, kịp thời, bên cạnh đó cũng là biện pháp để giúp đảm 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo thi hành án hình sự.
Đối tượng của biện pháp ngăn chặn tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo tức là những người đã có quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, không phải tất cả các bị can, bị cáo đều áp dụng biện pháp tạm giam mà theo căn cứ điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định những bị can, bị cáo có thể được áp dụng biện pháp tạm giam bao gồm: bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội. Như vậy, để áp dụng biện pháp tạm giam đối với những bị can, bị cáo phạm tội phải tính đến khả năng người đó có thể trốn tránh hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hay tiếp tục phạm tội dựa vào nhân thân người phạm tội, họ có tiền án, tiền sự gì không, tạm giam có cần thiết hay không. Hơn nữa, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng quy định một số trường hợp có đủ căn cứ thì không áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như: bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng.
Tuy nhiên, những người này vẫn có thể áp dụng biện pháp tạm giam nếu họ thuộc một trong những trường hợp sau đây: bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Khoản 3 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự quy định những người có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam bao gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức vụ Chánh tòa, phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử; Thủ trưởng, phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Khi Thủ trưởng, phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp ra lệnh tạm giam thì phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.