Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠM GIỮ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật trong kiểm sát hoạt động tạm giữ. Khái niệm thực hiện pháp luật về Tạm giữ. - Khái niệm tạm giữ.
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn chặn việc họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hay có hành động cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định nhiều biện pháp ngăn chặn và được ghi nhận tại Chương VI Bộ luật TTHS và tạm giữ là một trong các biện pháp ngăn chặn đó. Bên cạnh đó tạm giữ còn là một biện pháp ngăn chặn, bảo đảm trong xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính 2012. Tuy nhiên trong luận văn này tôi chỉ đề cập đến vấn đề tạm giữ trong tố tụng hình sự.
Hiện nay, khái niệm tạm giữ cụ thể còn chưa được thống nhất với nhiều quan điểm khác nhau. Tham khảo giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội thì Tạm giữ được hiểu là: “biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã”1 10 Khái niệm này đã chỉ ra được đối tượng bị giam giữ theo tinh thần của Bộ luật TTHS năm 2015 nhưng lại chưa đưa ra được mục đích của việc tạm giữ. Theo Từ điển luật học năm 2006 thì khái niệm tạm giữ được định nghĩa như sau: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để cách ly họ với xã hội trong thời gian cần thiết, cần ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở đến việc điều tra, xác định sự liên quan của người này đối với việc phạm tội của họ”2 Khái quát lại, tác giả cho rằng: Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan và người có thẩm quyền theo luật định áp dụng với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện cho việc điều tra và kịp thời xử lý tội phạm. Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định rất nhiều biện pháp cưỡng chế khác nhau giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Trong số các biện pháp cưỡng chế theo quy định Bộ luật TTHS, biện pháp ngăn chặn là biện pháp rất quan trọng. Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng để ngăn chặn hành vi tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, thông cung hoặc cản trở điều tra, tạo điều kiện cho cơ quan điều tra có thẩm quyền có đủ thì giờ thu thập tài liệu, chứng cứ, bước đầu xác định hành vi phạm tội và lí lịch, nhân than của người phạm tội cũng như các tình tiết khác liên quan đến vụ án làm căn cứ ra các quyết định tố tụng khác như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh tạm giam hoặc trả tự do cho người bị tạm giữ, áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác. 11 - Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ: Căn cứ áp dụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 117 Bộ luật TTHS 2015, tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự chỉ có thể được áp dụng trong các trường hợp sau: + Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp; + Người bị bắt quả tang khi đang phạm tội; + Người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội ra đầu thú, tự thú. Như vậy trong quá trình tố tụng hình sự, việc tạm giữ sẽ được diễn ra trước khi tạm giam và có thể sẽ được áp dụng đối với tất cả các mức độ phạm tội nghiêm trọng, ít nghiệm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và có thể áp dụng đối với bất cứ đối tượng nào (có thể áp dụng đối với người chưa bị khởi tố như khi người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và trong trường hợp khẩn cấp), với mục đích ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa hành vi tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc cản trở công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án.
Thẩm quyền áp dụng: Người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ gồm: + Thủ trưởng, các Phó Thủ trưởng của Cơ quan điều tra các cấp; + Đồn trưởng các Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng; Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố tực thuộc Trung ương; Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng của Bộ đội biên phòng; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm của Bộ đội biên phòng; Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển; Cục trưởng của Cục Nghiệp vụ và pháp luật thuộc lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng; Thủ trưởng của các đơn vị độc lập cấp trung đoàn và cấp tương đương. 12 + Chỉ huy trưởng tàu bay, tàu biển khi đã rời khỏi địa phận sân bay hoặc bến cảng. Theo quy định của Bộ luật TTHS nhìn chung thì cơ quan điều tra từ cấp huyện trở lên mới có quyền ra quyết định tạm giữ. Chính quyền và công an cấp xã, phường, thị trấn không có quyền tạm giữ theo thủ tục tố tụng.
Vì vậy, khi nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, ủy ban nhân dân xã, phường hoặc thị trấn cần phải tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản bắt người đang bị truy nã và giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ. Thủ tục tạm giữ: Tạm giữ là biện pháp cưỡng chế trong TTHS, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do đi lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Ngoài ra còn ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống tình cảm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm xung quanh nơi họ sinh sống làm việc. Do vậy, việc thực hiện hoạt động tạm giữ người phải được tiến hành theo đúng trình tự thủ tục quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 117 Bộ luật TTHS, cụ thể: + Việc tạm giữ bắt buộc phải có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền ra quyết định.
Quyết định tạm giữ phải ghi rõ thông tin nhân thân như: họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm giữ, các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật TTHS về hình thức và giao cho người bị tạm giữ một bản. Việc tạm giữ không có quyết định của người có thẩm quyền, người bị tạm giữ có quyền yêu cầu được trả tự do. + Người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ cho người bị tạm giữ được biết theo nội dung quy định tại khoản 2 Điều 59 Bộ luật TTHS. + Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ, quyết định này phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
Khi kiểm sát việc tạm giữ, nếu nhận thấy việc tạm giữ trái pháp luật hoặc không cần thiết phải tạm giữ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và cơ quan đã ra 13 quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Viện KSND ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ trong những trường hợp: Người bị tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, và không phải là người đầu thú, tự thú; Người bị tạm giữ chỉ có những vi phạm nhỏ, tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự; Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sự việc phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng và không có biểu hiện sẽ trốn hay cản trở việc điều tra. Viện KSND phê chuẩn quyết định tạm giữ hoặc ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền. Nếu quyết định tạm giữ được phê chuẩn thì giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ và người có nhiệm vụ thi hành quyết định.
Nếu Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ thì cơ quan đang tạm giữ tiến hành trả tự do ngay cho người đang bị tạm giữ. Thời hạn tạm giữ: Tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự sẽ được áp dụng dựa trên quy định tại Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau: Không quá thời gian ba ngày kể từ thời điểm Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ đối với người ra tự thú, đầu thú; từ thời điểm Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận người bị giữ, người bị bắt tại trụ sở của mình từ người khác, cơ quan khác hoặc áp giải người bị giữ, bị bắt về trụ sở của mình. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, thời hạn gia hạn theo quy định không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng cũng không được quá 03 ngày.
Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ cần phải được Viện KSND cùng cấp hoặc Viện KSND có thẩm quyền phê chuẩn.