Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò thực hiện pháp luật về kiểm sát điều tra vụ án hình sự 1.1 Kiểm sát điều tra vụ án hình sự 1.1 Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Cơ quan điều tra sử dụng các biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc truy tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án. Bên cạnh đó thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan [15]. KSĐT vụ án hình sự là một trong những hoạt động cơ bản trong tố tụng hình sự thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND theo quy định trong Hiến pháp, theo đó, KSĐT vụ án hình sự được hiểu là giám sát tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong lĩnh vực điều tra vụ án hình sự.
Đây là hoạt động mà pháp luật trao quyền cho VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động điều tra, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra vụ án hình sự. Như vậy, KSĐT là một dạng giám sát nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, KSĐT là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan điều tra, người có thẩm quyền tiến hành điều tra và các chủ thể tham khác tham gia vào quá trình tố tụng vụ án với mục đích là nhằm đảm 9 bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất. Do đó, có thể nhận định, KSĐT là hoạt động của VKSND trong việc bảo đảm cho các hoạt động tố tụng được thực hiện theo đúng các trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định kiểm sát hoạt động tư pháp trong điều tra vụ án hình sự là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động điều tra, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Để đảm bảo điều tra vụ án hình sự được diễn ra khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, pháp luật nước ta quy định Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, bên cạnh đó pháp luật trao quyền cho Viện kiểm sát là đơn vị cùng thực hiện với Cơ quan điều tra để vừa thực hiện thức năng “giám sát“, vừa thực hiện chức năng buộc tội và cũng là cơ sở vững chắc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn tiếp theo là giai đoạn truy tố, đó chính là hoạt động thực hành quyền công tố và KSĐT theo quy định của pháp luật. Vì vậy, kiểm sát điều tra vụ án hình sự là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý của mình để thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh trong hoạt động điều tra nhằm đảm bảo việc điều tra kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật cũng như đảm bảo những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh.2 Đặc điểm về kiểm sát điều tra vụ án hình sự Một là, Hoạt động điều tra có nhiệm vụ chứng minh toàn bộ sự việc phạm tội một cách khách quan, toàn diện, cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội. Hoạt động KSĐT hướng đến sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động 10 điều tra; nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, viện kiểm sát có quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ thể chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật bị vi phạm.
Hai là, việc thực hiện công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ làm tiền đề cho hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác, nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra sẽ kéo theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động thực hành quyền công tố. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, khi hoạt động thực hành quyền công tố của viện kiểm sát được thực hiện cũng sẽ làm tiền đề phát sinh hoạt động kiểm sát. Mặt khác, nếu thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố sẽ bảo đảm công tác KSĐT thực hiện có chất lượng, hiệu quả và ngược lại. Ba là, mục đích của hoạt động KSĐT nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, việc điều tra được tiến hành khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác cũng như đảm bảo những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh.
Bốn là, phạm vi công tác KSĐT các vụ án hình sự bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm đến khi kết thúc việc điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật. Trong đó, dấu hiệu tội phạm được xác định dựa trên cơ sở tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của công dân, của cơ quan, tổ chức, các phương tiện thông tin đại chúng… Khi nhận được các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, cơ quan điều tra phải tiến hành kiểm tra, xác minh và giải quyết.2 Thực hiện pháp luật về kiểm sát điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm thực hiện pháp luật Xã hội là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, vì vậy bất kỳ xã hội nào cũng cần tới sự quản lý để tạo lập trật tự xã hội. Để thiết lập ổn định, trật tự cho xã 11 hội cần phải có sự điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội.
Sự điều chỉnh này là nhân tố bảo đảm cho những nhu cầu của các thành viên trong xã hội. Nói cách khác, sự điều chỉnh là phương tiện cần thiết để bảo đảm tính tổ chức của xã hội. Do đó, tất yếu đòi hỏi sự ra đời của pháp luật, đây không chỉ được xem là công cụ quản lý xã hội của giai cấp cầm quyền mà đó còn là sự thể hiện tính công bằng, dân chủ trong các mối quan hệ xã hội, dù nó chỉ mang tính tương đối với từng hệ thống pháp luật và từng hình thức nhà nước. Thực hiện pháp luật có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn, trong điều kiện hiện nay, tất cả những hoạt động nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện có tầm quan trọng đặc biệt.
“Suy cho cùng, pháp luật chỉ phát huy được hiệu lực, chính sách và đường lối của Đảng và Nhà nước chỉ có thể được thực hiện khi mà pháp luật, đường lối và chính sách đó được thể hiện trong hoạt động thực tế của bộ máy nhà nước, trong đời sống hàng ngày, hàng giờ của mọi công dân” [37]. Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Tất cả những hoạt động nào của con người, của các tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật. Hay nói cách khác, thực hiện pháp luật trong thực tế chính là việc vật chất hóa pháp luật vào đời sống xã hội, làm cho pháp luật thực tế chi phối được các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh.
Thực hiện pháp luật là một đòi hỏi xuất phát từ bản chất của nhà nước và pháp luật, là việc đưa pháp luật và đời sống xã hội. Về lý thuyết cũng như thực tiễn, thực hiện pháp luật là một quá trình tiếp theo và diễn ra ngay sau hoạt động sáng tạo pháp luật [10, tr 14-15] Dưới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp. Hành vi đó không trái, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật, phù hợp với quy định của pháp luật và có lợi cho xã hội, cho nhà nước và các cá nhân. 12 Dưới góc độ thực tiễn thì thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động của con người có tổ chức có chủ ý bao hàm những hành vi hợp pháp phù hợp với những quy định, những yêu cầu của pháp luật [38, tr10].
Do đó, pháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu lực, hiệu quả một khi quá trình sáng tạo pháp luật của Nhà nước đảm bảo chất lượng, số lượng và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cũng như trách nhiệm của cá nhân, tổ chức khi tổ chức thực hiện các quy định đó trong thực tiễn có chính xác, nghiêm minh và tự giác hay không. Pháp luật gồm rất nhiều các loại quy phạm pháp luật khác nhau để điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội đã, đang và có thể xảy ra trong tương lai. Và với mỗi lĩnh vực pháp luật thì những cách thức thực hiện chúng cũng có sự khác nhau: có thể đó là xử sự chủ động (hành động) từ các chủ thể nhằm đạt được mục đích đặt ra như sử dụng quyền hoặc làm nghĩa vụ pháp lý (ví dụ: Thực hiện nghĩa vụ thương yêu nuôi dưỡng, giáo dục con cái.); có thể đó là xử sự thụ động (không hành động) kiềm chế không làm những điều mà pháp luật cấm như tuân thủ yêu cầu của pháp luật (ví dụ: Không tụ tập đông người trong giai đoạn dịch bệnh Covid 19 đang bùng phát tại Việt Nam.