CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẢNG BIỂN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KHAI THÁC CẢNG BIỂN 1. TỔNG QUAN VỀ CẢNG BIỂN 1. Khái niệm cảng biển Cảng là nơi cung cấp một số lượng lớn cơ hội việc làm, cảng đã và sẽ tiếp tục đóng một vai trò rất quan trọng vào thu nhập hàng năm của nền kinh tế quốc gia, góp phần phát triển kinh tế của bất cứ quốc gia nào có cảng. Điều này càng trở nên đúng hơn bao giờ hết trong trường hợp các quốc gia tham gia tích cực vào hoạt động cạnh tranh thương mại trong xuất nhập khẩu.
Cảng còn là cửa ngõ kinh tế của quốc gia. Cơ sở hạ tầng cảng là chất xúc tác chính cho sự phát triển một số ngành công nghiệp như ngành công nghiệp bao bì, xi măng, các nhà máy đóng tàu, các trung tâm logistics phục vụ tàu và hàng, ngoài ra còn khu chế xuất (KCX) với hàng trăm loại hình sản xuất khác nhau. Vai trò của cảng trong phát triển kinh tế đã được minh chứng thông qua một khối lượng lớn hàng hóa xuất nhập khẩu qua cảng hàng năm với tốc độ tăng trưởng cao. Bên cạnh đó, cảng đóng vai trò quan trọng trong khai thác tiềm năng của thương mại quốc tế của mỗi quốc gia nhằm đảm bảo sự hài hòa trong phát triển các ngành công nghiệp của quốc gia đó.
Các ảnh hưởng trực tiếp của cảng đến phát triển kinh tế bao gồm: Xúc tiến cạnh tranh buôn bán thương mại với nước ngoài; Ảnh hưởng đến mức giá trong nước của hàng hóa nhập khẩu; Cung cấp cơ hội việc làm cho nhóm nhân công làm việc trong cảng và nhóm nhân công làm việc có liên quan đến cảng; Đóng góp cho thu nhập quốc dân; Đóng góp cho quá trình phát triển công nghệ hàng hải và các khu vực chuyên ngành về hàng hải; Phát triển các ngành công nghiệp có liên quan đến công nghiệp hàng hải. Cảng cũng góp phần kích thích và duy trì phát triển, tăng trưởng các hoạt động trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế như ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất, cung cấp các dịch vụ vận tải, đại lý, môi giới và logistic. Do đó, trong bất kỳ một nền kinh tế nào cảng đều có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ quốc gia, hội nhập kinh tế, phát triển chính trị và xã hội, chính điều này khiến các khu vực dịch vụ cảng đều được 13 thiết kế như các khu vực chiến lược và luôn dành được sự ưu tiên của quốc gia. Đối với từng lĩnh vực, cảng biển có một vai trò rất quan trọng: - Đối với ngoại thương: Cảng là nhân tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đội tàu buôn, từ đó cho phép một quốc gia không bị lệ thuộc vào sự kiểm soát của các quốc gia khác.
Ngoài ra cảng còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và giữ vững quan hệ thương mại với các quốc gia khác. - Đối với công nghiệp: Cảng là nơi diễn ra các hoạt động xuất nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp. - Đối với nông nghiệp: Tác động của cảng mang tính hai chiều, ví dụ như xuất khẩu lúa gạo, nông sản và nhập khẩu phân bón, máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. - Đối với nội thương: Cảng phục vụ xếp dỡ hàng hóa cho các phương tiện vận tải nội địa, vận tải ven biển và vận tải hàng quá cảnh, góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động của nhiều cơ quan kinh doanh và dịch vụ khác, thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp logistics.
- Đối với thành phố cảng: Cảng là tiền đề cho thành phố cảng trở thành các khu trung tâm công nghiệp lớn và tạo công ăn việc làm cho người dân trong thành phố cảng.rất nhiều định nghĩa khác nhau về cảng biển, trong đó khái niệm thường được sử dụng nhất là theo Điều 73 Bộ Luật Hàng hải Việt Nam năm 2015. Khái niệm đó được trình bày như sau: Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu biển ra, vào hoạt động để xếp dỡ hàng hóa, đón trả khách và cung cấp các dịch vụ khác. Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng.
Vùng đất cảng là vùng đất được giới hạn để xây dựng cầu cảng, kho bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện nước, các công trình phụ trợ khác và lắp đặt trang thiết bị phục vụ cảng. Vùng nước cảng là vùng nước được giới hạn để thiết lập vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, vùng để xây dựng luồng cảng biển và các công trình phụ trợ khác. 14 Cảng được coi như là một mắt xích trong dây chuyền vận tải, nó là nơi gặp gỡ của các phương thức vận tải khác nhau. Do vậy mà cảng phải thực hiện các nhiệm vụ sau: - Lập sơ đồ công nghệ, thực hiện công tác xếp dỡ vận tải nội bộ, công tác đóng gói, bảo quản giao nhận hàng hóa và các công tác phục vụ khác như làm sạch hầm tàu, toa xe.
- Tiến hành công tác hoa tiêu, lai dắt, cung ứng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên vật liệu cần thiết cho tàu. - Phục vụ kỹ thuật sửa chữa cho tàu và phục vụ hàng hóa. - Tổ chức tránh nạn cho phương tiện vận tải trong những trường hợp thời tiết xấu. Để làm những công việc này cảng cần phải có cầu tàu hàng hóa, cầu tàu hành khách, cầu tàu phụ, kho nhiên liệu, xưởng sửa chữa.
Chức năng vận tải Chức năng vận tải của các cảng biển có lịch sử lâu đời cùng với sự xuất hiện của hệ thống cảng biển tức là từ những ngày đầu tồn tại của chúng. Chức năng này phản ánh thông qua khối lượng hàng hóa được cảng phục vụ trong một thời gian nhất định (Tổng số tấn hàng hóa thông qua cảng, tổng số tấn hàng hóa xếp dỡ của cảng). Chức năng thương mại Là chức năng gắn liền với sự ra đời của cảng, chức năng thương mại ngày càng phát triển theo sự phát triển kinh tế của quốc gia, khu vực và thế giới. Chức năng thương mại của các cảng biển thể hiện ở một số đặc điểm sau: Cảng là nơi xúc tiến các hoạt động tìm hiểu, ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu; Là nơi thực hiện các hợp đồng xuất nhập khẩu; Xuất khẩu các dịch vụ về lao động, kỹ thuật, tài chính.
Chức năng công nghiệp Chức năng công nghiệp của các cảng biển cũng có lịch sử lâu đời bắt đầu từ những xưởng thủ công và các nhà máy công nghiệp, các cảng biển đã trở thành những trung tâm thuận lợi cho việc định vị các doanh nghiệp công nghiệp của nhiều ngành khác nhau, bởi vì sự định vị này cho phép việc tiết kiệm đáng kể chi phí vận tải so với việc xây dựng chúng ở miền hậu phương xa của cảng. Việc xây dựng các xí nghiệp công nghiệp ở trong cảng, ở khu vực gần cảng, hay ở hậu phương của cảng có thể 15 mang lại sự tiết kiệm nhiều mặt tùy thuộc vào hoạt động của doanh nghiệp là nhập khẩu nguyên liệu hay xuất khẩu sản phẩm hoặc tạm nhập tái xuất. Chức năng xây dựng thành phố và địa phương Chức năng này có nguồn gốc từ các chức năng vận tải, thương mại và công nghiệp, thể hiện ở việc cảng biển góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế của thành phố cảng, tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động ở thành phố cảng, đóng góp với ngân sách nhà nước và địa phương có cảng thông qua các khoản thuế, thúc đẩy việc xây dựng thành phố cảng thành một trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch đồng thời là một trung tâm kinh tế quan trọng của quốc gia. Thực tế cảng biển thường thực hiện 2 chức năng chủ yếu là phục vụ hàng hóa xuất nhập khẩu và hàng hóa trung chuyển.
Do vậy, đã hình thành và phát triển chức năng cung ứng các dịch vụ logistics. Một số cảng lớn trên thế giới như Hongkong, Singapore, Rotterdam là tổ hợp của 3 chức năng cơ bản: Xuất nhập khẩu, trung chuyển và logistics.5 Vị trí của cảng biển trong hệ thống vận tải quốc gia Hệ thống vận tải là một tập hợp các phương tiện và các hoạt động của tất cả các mắt xích của vận tải, chúng hình thành đồng bộ với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thành phần chính của hệ thống vận tải là mạng đường vận tải và khối lượng hàng hóa được dịch chuyển trên mạng đường đó. Trong hệ thống vận tải, cảng biển được coi là điểm nút của vận tải bởi vì luôn có ít nhất là hai tuyến vận tải hoạt động ở hai loại hình vận tải khác nhau chạy qua đây, ví dụ điển hình nhất là đường biển với đường bộ và đường sắt.
Cảng biển không phải là điểm đầu hoặc kết thúc của quá trình vận tải mà là điểm luân chuyển hàng hóa và hành khách từ các phương tiện vận tải đường biển sang các phương tiện vận tải khác và ngược lại. Do đó cảng là những điểm nối các ngành kinh tế và là cửa ngõ của một vùng, một quốc gia. Thông qua cảng, quốc gia đó có khả năng buôn bán và giao dịch với các quốc gia khác.6 Nhiệm vụ của cảng Cảng được coi như là một mắt xích trong dây chuyền vận tải, nó là nơi gặp gỡ của các phương thức vận tải khác nhau. Do vậy mà cảng phải thực hiện các nhiệm vụ sau: 16 - Lập sơ đồ công nghệ, thực hiện công tác xếp dỡ vận tải nội bộ, công tác đóng gói, bảo quản giao nhận hàng hóa và các công tác phục vụ khác như làm sạch hầm tàu, toa xe.
- Tiến hành công tác hoa tiêu, lai dắt, cung ứng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên vật liệu cần thiết cho tàu. - Phục vụ kỹ thuật sửa chữa cho tàu và phục vụ hàng hóa. - Tổ chức tránh nạn cho phương tiện vận tải trong những trường hợp thời tiết xấu. Để làm những công việc này cảng cần phải có cầu tàu hàng hóa, cầu tàu hành khách, cầu tàu phụ, kho nhiên liệu, xưởng sửa chữa.
Cảng cần được trang bị đầy đủ thông qua những công trình thủy, thiết bị xếp dỡ, ngoài ra còn có đường thủy và thủy nội địa, đường bộ và đường sắt ra vào cảng giải phóng hàng.