CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS 1.1 Một số vấn đề lý luận về Logistics và dịch vụ Logistics 1.1 Khái niệm Logistics và phân loại Logistics 1.1 Khái niệm Logistics Thuật ngữ Logistics được xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của thế giới. Logistics phát triển quá nhanh chóng, trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, ở nhiều nước, nên có rất nhiều tổ chức, cá nhân, tác giả tham gia nghiên cứu, đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Cho đến nay có rất nhiều tài liệu đưa ra định nghĩa về khái niệm này nhưng vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về Logistics. Mỗi định nghĩa đều có một cách tiếp cận khác nhau, một góc nhìn khác nhau, và việc nghiên cứu, tìm hiểu tất cả những định nghĩa điển hình sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về Logistics.
Trong giai đoạn đầu mới xuất hiện thuật ngữ Logistics, người ta đưa ra khái niệm như sau: "Logistics là hoạt động quản lý quá trình vận chuyển và lưu kho của: nguyên vật liệu đi vào xí nghiệp; hàng hóa, bán thành phẩm trong quá trình sản xuất, sản phẩm cuối cùng đi ra khỏi xí nghiệp" (Logistics is managing the movementand storage of: material into the enterprise; Goods in process in the enterprise; Finished goods from enterprise) [1,14-16]. Khái niệm trên được nêu ra đúng quy trình của Logistics nhưng theo quan điểm hiện đại về cách tiếp cận Logistics hợp nhất thì vẫn có những hạn chế. Khái niệm này chưa đề cập đến quá trình Logistics ngược bao gồm các hoạt động thu hồi sản phẩm lỗi mốt hay phế phẩm tái sản xuất từ người tiêu dùng về nhà máy sản xuất. Ngoài ra khái niệm trên chưa đề cập tới yếu tố thông tin, theo quan điểm hiện đại, đều thuộc Logistics.
Theo khái niệm trên thì Logistics chỉ bao gồm quản lý, vận chuyển và lưu kho. Do vậy đây vẫn chưa phải là một khái niệm đầy đủ. Sau này, có rất nhiều định nghĩa về Logistics được đưa ra, chẳng hạn, theo Donald J.Bowersox (1996) trong cuốn Logisticscal management: The Intergrated Supply Chain Process định nghĩa: "Logistics là một nguyên lý đơn lẻ nhằm hướng 5 dẫn quá trình lên kế hoạch, định vị và kiểm soát các nguồn nhân lực và tài lực có liên quan tới hoạt động phân phối vật chất, hỗ trợ sản xuất và hoạt động mua hàng". Theo tài liệu của ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á - Thái Binh Dương của Liên Hiệp Quốc (UNESCAP), khái niệm Logistics được giải thích như sau: " Logistics được hiểu là việc quản lý dòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan.
từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng". Song định nghĩa được coi đầy đủ nhất và được sử dụng rộng rãi nhất là định nghĩa về Logistics của Hội đồng quản lý Logistics của Hoa Kỳ (Council of Logistics Management - CLM). Theo CLM: " Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điềm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao chohiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng" ( Logistics is the process of planning, implementing, and controlling the efficient etTective flow and storage of goods, services, and related information from point of origin to point of consumption for the purpose of conbrming to customer requirements). NHÀ MÁY SẢN XUẤT BÁN BÁN LẺ KHÁCH BUÔN HÀNG DV Logistics Lưu chuyển hàng hóa Lưu chuyển thông tin Lưu chuyển tiền tệ Sơ đồ 1.1: Sơ đồ dòng lưu chuyển Logistics “Nguồn: [3,28]” Qua các khái niệm trên đây, có thể thấy Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm, đó là hoạt động quản lý, lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá 6 trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng với mục đích giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hóa một cách kịp thời (Just In Time).
Chính vì vậy, khi nói đến Logistics bao giờ người ta cũng nói đến một chuỗi hệ thống các dịch vụ (Logistics system chain) [2].2 Phân loại Logistics Logistics bên thứ nhất (1PL - First Party Logistisc): Người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics đề đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải tự đầu tư các phương tiện vận tải. Kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động Logistics. Logistics bên thứ nhất làm tăng qui mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn do không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý và vận hành hoạt động Logistics.
Thêm vào đó, việc đầu tư vào quản lý và vận hành hoạt động Logistics sẽ làm cho doanh nghiệp phải phân tán nguồn lực bao gồm: vốn và nhân lực. Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): người cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động Logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán, mua bảohiểm.) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng. Đặc điểm nổi bật của loại hình này đó là 2PL chỉ cung cấp các hoạt động đơn lẻ, chưa tích hợp thành chuỗi hoạt động Logistics. Loại hình này bao gồm: các hàng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kho bãi, kê khai hải quan, trung gian thanh toán.
Logistics bên thứ ba (3PL - Third Party Logistics): Là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ Logistics cho từng bộ phận chức năng, ví dụ như thay mặt người gửi hàng thực hiện các thủ tục xuất nhập và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyên hàng tới địa điểm đến quy định. Do đó dịch vụ Logistics bên thứ ba bao gồm chuỗi dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin.và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. Sự hợp tác giữa chủ hàng và công ty bên ngoài là một mối quan hệ liên tục có chủ định. Như vậy có thể hiểu là nhà cung cấp dịch vụ Logistics thứ ba là người có thể cung cấp một dịch vụ tích hợp trọn gói cho khách hàng (One stop shop Logistics service).
Tuy nhiên không phải lúc nào khách hàng cũng sẵn sàng thuê ngoài (Outsource) hết các hoạt động Logistics của mình. Người ta gọi thị trường cho các 3PL là thị trường 3PL hoặc thị trường contract Logistics (cho các quan hệ hợp đồng dài hạn giữa 3PL và khách hàng), để phân biệt với các thị trường chuyên biệt như thị trường giao nhận, thị trường vận tải biển, vận tải đường bộ. Logistics bên thứ tư (4PL - Fourth Party Logistics) là người tích hợp, gắn kết các nguồn lực tiềm năng và cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi Logistics. Logistics bên thứ tư chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển Logistics, cung cấp các giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn Logistics, quản trị vận tải.và hướng đến quản trị cả quá trình Logistics như: nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thù tục xuất nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng.
Điểm khác biệt giữa 3PL và 4PL ở chỗ: 3PL cung cấp các dịch vụ mang tính chất nghiệp vụ thuần túy thì 4PL lại đảm nhiệm vai trò quản trị chiến lược và chuyên sâu trong toàn bộ chuỗi cung ứng của khách hàng. Tại một số nước và khu vực có ngành Logistics phát triển cao như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âu, Singapore. 4PL được hình thành và phát triển nhanh trong những năm gần đây bên cạnh hình thức 3PL truyền thống. Logistics bên thứ năm (5PL - Fifth Party Logistics) đã được nhắc đến trong những năm gần đây.
Đây là hình thức phát triển cao hơn của Logistics bên thứ tư đi cùng với sự phát triển của thương mại điện tử. Với sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử, mọi hoạt động giao dịch, mua bán, thanh toán hiện nay đều có thể thực hiện thông qua mạng Intemet. Ở đây, người cung cấp dịch vụ Logistics không những ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại nhằm cung cấp các dịch vụ truyền thống mà còn phục vụ cho thị trường vận tải trực tuyến trên internet. Hiện nay, trên thế giới và đặc biệt là Hoa Kỳ đã hình thành một số nhà cung cấp dịch vụ 8 5PL nổi tiếng như UPS, Target.[Đoàn Thị Hồng Vân (2006), quản trị logistics, tr.2 Khái niệm dịch vụ Logistics và phân loại dịch vụ Logistics 1.1 Khái niệm dịch vụ Logistics Khác với thuật ngữ “Logistics”, thuật ngữ “dịch vụ Logistics” không được định nghĩa, xem xét nhiều đến trong các văn bản tài liệu nước ngoài.
Theo định nghĩa trong cuốn “The Management of Business Logistics” thì “dịch vụ Logistics là một mô hình được xác định theo chuẩn quy định từ trước do các nhà vận tải cung cấp, mời gọi sử dụng và tính tiền cước giao nhận hàng hóa”. Ở luật Thương mại Việt Nam 2005, khái niệm về Logistics không được đề cập đến, mà chỉ đề cập đến dịch vụ Logistics. Theo Điều 233 - Luật Thương mại Việt Nam 2005: Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó, thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao[10,30-31], Định nghĩa trên của Luật Thương mại 2005 có nội dung khá rộng và chưa nêu được đặc trưng cơ bản của dịch vụ Logistics, hay nói cách khác nội hàm của khái niệm chưa được làm rõ. Việc đưa ra nhiều thành phần “nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan,.” có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau và gây ra việc khó áp dụng trong thực tế nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa.
Trên thực tế, trước khi Luật Thương mại 2005 đưa ra khái niệm về dịch vụ Logistics thì các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như doanh nghiệp nước ngoài đã cung cấp toàn bộ các công việc mà Luật Thương mại 2005 nêu tại Điều 233.