phần Mở đầu, kết luận luận văn có kết cấu ba chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Đéc. 9 Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sa Đéc. 1 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG 1.
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng 1. Khái niệm về huy động vốn của ngân hàng Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật các TCTD sửa đổi năm 2017, huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng, là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động đƣợc từ lƣợng tiền nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn từ nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các TCTD và vay vốn của NHNN làm nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình (Quốc hội, 2010). Cũng giống nhƣ mọi hoạt động kinh tế khác, ngân hàng muốn hoạt động thì phải có vốn, nhƣng vì hàng hoá mà các ngân hàng kinh doanh là hàng hoá đặc biệt - đó là tiền nên buộc họ phải tìm cách mua vốn trên thị trƣờng tài chính. Thực chất là các ngân hàng kinh doanh “quyền sử dụng vốn” tức ngƣời cần vốn phải trả lãi cho ngƣời có vốn trên thị trƣờng, đó là một khoản phí để có đƣợc quyền sử dụng vốn trong thời gian xác định.
Thông qua thị trƣờng, vốn đƣợc lƣu chuyển rộng rãi, từ đó mới có thể thực hiện đủ bản chất và vai trò của mình. Nhìn chung, vốn của ngân hàng có thể đƣợc hiểu là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập hoặc huy động đƣợc dùng để đầu tƣ, cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Nó chi phối toàn bộ hoạt động của ngân hàng, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Vốn kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại đƣợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhƣ vốn tự có, vốn huy động, vốn trong thanh toán.
Về bản chất vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc dân nhàn rỗi trong quá trình phân phối và tiêu dùng mà ngƣời chủ sở hữu với các mục đích 1 khác nhau gửi vào ngân hàng. Do vậy, nhu cầu về vốn của ngân hàng là rất lớn và việc tạo vốn cho ngân hàng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại, muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả mang lại lợi nhuận cao thì hoạt động huy động vốn cần phải đƣợc quan tâm đúng mức. Theo quan điểm của tác giả, huy động vốn của ngân hàng là việc ngân hàng sử dụng các nghiệp vụ theo quy định tại Luật các TCTD năm 2010 và Luật các TCTD sửa đổi năm 2017 để tạo nguồn vốn cho ngân hàng. Theo Điều 4, Khoản13.
Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận. Vai trò của huy động vốn đối với ngân hàng - Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành ngân hàng: Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc thì phải có: Công nghệ – Lao động – Tiền vốn trong đó vốn là nhân tố quan trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng đối với ngân hàng, vốn lại càng là nhân tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức hoạt động kinh doanh, ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nếu không có vốn.
Vốn không chỉ là phƣơng tiện kinh doanh chính mà còn là đối tƣợng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt trên thị trƣờng tiền tệ (thị trƣờng vốn ngắn hạn) và thị trƣờng chứng khoán (thị trƣờng vốn dài hạn). Chính vì thế, có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng, là khâu cốt tử của ngân hàng. Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là đủ vốn điều lệ theo luật định thì ngân hàng phải thƣờng xuyên chăm lo tới việc tăng trƣởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình.
- Vốn quyết định khả năng thanh toán và năng lực cạnh tranh của ngân hàng: 1 Trong nền kinh tế thị trƣờng, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trƣờng là điều trọng yếu. Uy tín đó phải đƣợc thể hiện trƣớc hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Chúng ta đã biết, đại bộ phận vốn của ngân hàng là vốn tiền gửi và đi vay, do vậy ngân hàng phải có đủ khả năng chi trả cho khách hàng khi họ có yêu cầu rút tiền. Với ngân hàng vốn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Thực tế đã chứng minh quy mô vốn, trình độ nghiệp vụ, phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại là điều kiện tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn và nguồn vốn lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lƣợng tín dụng, chủ động về thời gian, lãi suất. Kết quả của sự gia tăng trên giúp ngân hàng kinh doanh đa năng trên thị trƣờng, phân tán rủi ro, và khi đó, tất yếu trên thị trƣờng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng sẽ tăng lên. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. Vì vậy nếu loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và với vốn khả dụng của ngân hàng nói riêng.
Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm giữ chữ tín, vừa nâng cao vị thế của ngân hàng. - Vốn quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng: Trong điều kiện bình thƣờng, đầu vào luôn ảnh hƣởng trực tiếp tới đầu ra. Đối với ngân hàng vốn là yếu tố đầu vào, còn tín dụng, đầu tƣ. là yếu tố đầu ra.
Vì vậy, so với ngân hàng lớn các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tƣ và cho vay kém đa dạng hơn. Hơn nữa, do vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhanh nhạy với những đợt biến động lãi suất, ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn đầu tƣ từ dân chúng và các thành phần kinh tế, đồng thời khó có thể mở rộng đầu tƣ vào cơ sở vật chất hạ tầng, công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh, cũng nhƣ việc đầu tƣ vào các danh mục đầu tƣ dài hạn, tham gia vào thị trƣờng chứng khoán trong điều kiện nhƣ hiện nay. 1 Hoạt động của ngân hàng là huy động để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy động đƣợc lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên hoạt động huy động vốn càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy, hoạt động huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các ngân hàng và nó quyết định rất lớn đến thành công hay thất bại của ngân hàng.
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng Theo Điều 4, Khoản 13 của Luật các TCTD năm 2010 và Luật các TCTD sửa đổi năm 2017. Có các hình thức huy động vốn của ngân hàng nhƣ sau: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dƣới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại, khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ tiền, tài sản và thanh toán hộ khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cƣ. Cùng với sự phát triển vƣợt bậc của nền kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thƣơng mại.
Ngày nay hầu hết các ngân hàng đang đẩy mạnh huy động vốn thông qua các chính sách cụ thể, r ràng và hiệu quả. Tiền gửi thanh toán: Với mục đích giao dịch, trên cơ sở phạm vi số dƣ có trên tài khoản tiền gửi của khách hàng, ngân hàng sẽ thực hiện việc chi trả khi khách hàng có yêu cầu hoặc có sự uỷ quyền. Các khoản thu nhập của khách hàng đều có thể dễ dàng đƣợc ngân hàng nhập vào tài khoản. Hiện nay do yêu cầu của cạnh tranh, các ngân hàng đều quan tâm tới việc rút ngắn thời gian giao dịch cho khách hàng cho nên thủ tục mở tại khoản rất đơn giản, gọn nhẹ và thuận tiện.
Để thu hút khách hàng một số ngân hàng còn kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với cho vay (hay còn gọi là cho vay thấu chi), một số ngân hàng sử dụng nhiều hình thức biến tƣớng của tài khoản tiền gửi thanh toán để nâng lãi suất loại tiền gửi tƣơng ứng này nhằm cạnh tranh với các Tổ chức tín dụng, các ngân hàng thƣơng mại khác. 1 Tiền gửi có kỳ hạn của các Doanh nghiệp, Tổ chức xã hội: Nhiều khoản thu bằng tiền của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội sẽ đƣợc chi trả trong một khoảng thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho thanh toán song mức lãi suất thƣờng rất thấp. Để đáp ứng nhu cầu và khuyến khích ngƣời gửi tiền, tạo điều kiện khơi tăng nguồn vốn cho mình, các ngân hàng đƣa ra các hình thức tiền gửi có kỳ hạn.
Thông thƣờng khoản tiền gửi này không thuận tiện trong thanh toán nhƣ tiền gửi thanh toán nhƣ ở trên, khi cần tiền khách hàng phải đến ngân hàng để thực hiện rút tiền ra.