Chương 1 HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NGUỒN VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Vốn đầu tư trong nền kinh tế Từ trước đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về vốn, mỗi quan điểm đều có cách tiếp cận riêng. Vốn là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư.
Nguồn lực có thể là của cải vật chất tài nguyên thiên nhiên là sức lao động và tất cả các tài sản vật chất khác. Trong nền kinh tế thị trường, vốn được quan niệm là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu trong các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp. Như vậy, vốn là yếu tố không thể thiếu của hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện đầu tiên để tiến đến hoạt động kinh doanh. Vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoài.
Nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm các nguồn vốn thu được từ hoạt động của Ngân sách nhà nước, vốn huy động từ các tổ chức tài chính trung gian, thị trường vốn, thị trường chứng khoán và nguồn vốn huy động được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong nền kinh tế. Vốn nước ngoài bao gồm các nguồn vốn viện trợ phát triển ODA, nguồn vốn huy động qua thị trường quốc tế và nguồn vốn từ thu hút trực tiếp nước ngoài FDI. Cũng giống như các chủ thể khác trong nền kinh tế, hoạt động kinh doanh của ngành Ngân hàng nói chung và Ngân hàng thương mại nói riêng muốn đạt được hiệu quả cao thì công tác huy động vốn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đã huy động là nhiệm vụ then chốt và hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại 1.
Ngân hàng thương mại 6 Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời, hình thành và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế nói chung và các thành phần kinh tế nói riêng. Sự hình thành và phát triển của hệ thống NHTM là hệ quả tất yếu của việc xây dựng nền kinh tế thị trường, là yếu tố cấu thành thị trường tài chính, là động lực thúc đẩy thị trường tài chính phát triển và ngược lại. Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động Ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Như vậy có thể hiểu rằng Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. Việc tạo lập, tổ chức và quản lý vốn của NHTM là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu không chỉ vì lợi ích riêng của bản thân các NHTM mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để đầu tư, cho vay, thực hiện các dịch vụ Ngân hàng hoặc các dịch vụ kinh doanh khác. Nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác.
- Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Vốn chủ sở hữu của NHTM thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (chỉ khoảng 5%) nhưng có vai trò cực kỳ quan trọng, đóng vai trò là nền tảng, là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác. Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng được coi như là tài sản đảm bảo, gây lòng tin với khách hàng. Nó là một căn cứ quyết định quy mô và khối lượng vốn huy động, tính toán các chỉ tiêu đảm bảo an toàn và giới hạn mức cho vay và bảo lãnh của Ngân hàng.
Việc tăng cường, mở rộng nguồn vốn này 7 một cách hợp lý là rất quan trọng đối với tất cả các NHTM. Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng bao gồm: + Vốn điều lệ: là số vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của Ngân hàng. Tùy theo hình thức sở hữu mà vốn điều lệ của NHTM được hình thành từ các nguồn khác nhau. Đối với NHTM nhà nước, vốn điều lệ chủ yếu do Ngân hàng Nhà nước nắm giữ.
Ở NHTM cổ phần, vốn này do các cổ đông đóng góp. Đối với Ngân hàng liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh đóng góp. Còn đối với Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam thì do Ngân hàng mẹ ở nước ngoài cấp. Vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định và sẽ được bổ sung thêm trong suốt quá trình hoạt động của Ngân hàng.
+ Các quỹ dự trữ bao gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ tài chính, các quỹ khác (đầu tư phát triển, khen thưởng, phúc lợi,…). + Các tài sản nợ khác theo quy định của pháp luật: vốn đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản do Nhà nước cấp, các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá, lợi nhuận được để lại chưa phân bổ cho các quỹ. - Vốn huy động: Vốn huy động của NHTM bao gồm nội tệ và ngoại tệ được hình thành từ hai bộ phận là vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá. Vốn huy động từ tiền gửi bao gồm: + Tiền gửi thanh toán: là tiền gửi của các tổ chức và cá nhân, theo đó Ngân hàng có trách nhiệm thực hiện các khoản chi trả cho khách hàng một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác.
Mục đích của loại tiền gửi thanh toán là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. + Tiền gửi có kỳ hạn: các tổ chức và cá nhân có thu nhập tạm thời chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định có thể gửi vào Ngân hàng dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn và chỉ được rút ra khi đến hạn. Đối với các Ngân hàng, tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn ổn định trong kinh doanh, nên lãi suất mà Ngân hàng 8 phải trả cho tiền gửi này cao hơn lãi suất trả cho tiền gửi thanh toán. Thông thường, tiền gửi có kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của Ngân hàng. Sau khi gửi tiền, người gửi tiết kiệm được Ngân hàng giao cho một sổ tiết kiệm. Trong thời gian gửi tiền, sổ tiết kiệm có thể dùng làm vật cầm cố hoặc được chiết khấu để vay vốn Ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
+ Tiền gửi khác: tiền gửi của tổ chức tín dụng khác, tiền gửi của kho bạc nhà nước, tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội,… + Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá: đây là phần vốn mà NHTM có được thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu Ngân hàng, trái phiếu Ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi. Đối tượng mua giấy tờ có giá do Ngân hàng phát hành là các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Họ sử dụng tiền tạm thời nhàn rỗi để mua, với mục đích đầu tư lâu dài. Tóm lại, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn kinh doanh của NHTM.
Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của Ngân hàng. Nguồn vốn này có xu hướng ngày càng gia tăng phù hợp với xu hướng tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế, việc cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ của Ngân hàng, với việc gia tăng nhu cầu thanh toán của dân cư. - Vốn đi vay: Vốn đi vay của NHTM bao gồm vốn vay của TCTD khác và vốn vay của Ngân hàng Trung ương (NHTƯ). + Vốn vay của TCTD khác: Khi tạm thời thiếu vốn, các chi nhánh Ngân hàng trong hệ thống có thể được điều chuyển vốn từ hội sở chính, hoặc giữa các Ngân hàng diễn ra hoạt động vay nóng, vay qua đêm với lãi suất nhất định, trên cơ sở quy định của NHNN.
+ Vốn vay của NHTƯ: Các NHTM cũng có thể được vay vốn từ Ngân hàng trung ương khi cần thiết. Ngân hàng trung ương với tư cách là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế, cho các NHTM vay dưới hình thức: cho vay lại 9 theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu; cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Vốn vay của TCTD khác và vay của NHTƯ thường chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng vốn kinh doanh của NHTM, nhưng nó góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh của Ngân hàng, bảo đảm khả năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn của NHTM. - Nguồn vốn khác: Bên cạnh các nguồn vốn nêu trên, trong quá trình hoạt động các NHTM có thể tạo lập vốn cho mình từ nhiều nguồn khác như: + Vốn trong thanh toán: là số vốn có được do Ngân hàng làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế.
+ Vốn ủy thác đầu tư: đây là nguồn vốn có được do Ngân hàng làm đại lý nhận uỷ thác, thực hiện đầu tư trong các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngoài ra Ngân hàng còn tạo vốn từ việc làm đại lý bán cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệp hay kho bạc nhà nước. Các nguồn vốn khác của Ngân hàng có thể không nhiều, thời gian sử dụng đôi khi rất ngắn nhưng không phải tốn kém nhiều chi phí huy động, thậm chí thu được phí từ các dịch vụ đó nên xét trên góc độ hiệu quả các Ngân hàng rất quan tâm đến nguồn vốn này. Tóm lại, vốn huy động là loại vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM.
Vốn huy động là công cụ chính và giữ vị trí vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM, có quyết định trực tiếp tới lợi nhuận, hiệu quả, vị thế và uy tín của Ngân hàng. Huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1.