Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số 9.01) của tác giả Trần Anh Dũng, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Công Nghiệp và PGS. Nguyễn Thị Việt Nga, mang tiêu đề: "Hoàn thiện hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, áp lực hồi phục kinh tế sau đại dịch Covid-19 và tình trạng bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) kéo dài đặt ra yêu cầu cấp bách về việc huy động nguồn lực tài chính công an toàn, bền vững. Phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) qua phương thức đấu thầu hiện là kênh huy động vốn chủ đạo. Tuy nhiên, hạ tầng công nghệ thông tin phát hành TPCP tại Việt Nam vẫn vận hành theo mô hình tập trung truyền thống, làm hạn chế khả năng tiếp cận của các nhóm nhà đầu tư nhỏ lẻ, chưa tối ưu hóa chi phí và hiệu suất giao dịch. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là sự thiếu vắng các công trình trong nước đi sâu vào kỹ thuật phát hành TPCP qua đấu thầu gắn với bài toán hiệu quả huy động vốn cho NSNN trong bối cảnh mới, đồng thời chưa có nghiên cứu chuyên sâu về mô hình ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) vào quy trình đấu thầu phát hành TPCP tại thị trường Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hoạt động phát hành TPCP và hiệu quả huy động vốn cho NSNN; đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động đấu thầu phát hành TPCP giai đoạn 2010 – 2021; đề xuất hệ thống giải pháp vĩ mô và vi mô, trọng tâm là mô hình ứng dụng công nghệ chuỗi khối Blockchain nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho NSNN đến năm 2030.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa khung lý luận về phát hành TPCP, hiệu quả huy động vốn NSNN và tổng hợp bài học kinh nghiệm quốc tế (Anh, Thái Lan, Philippines, Áo, Đức, Hàn Quốc).
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát hành TPCP qua đấu thầu tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2021 thông qua dữ liệu thứ cấp và khảo sát sơ cấp.
- Đề xuất các quan điểm, mục tiêu và nhóm giải pháp hoàn thiện kỹ thuật phát hành, đa dạng hóa phương thức đấu thầu và thiết lập mô hình ứng dụng công nghệ chuỗi khối Blockchain.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu:
- (i) Cần nhận diện như thế nào về lý luận của hoạt động phát hành TPCP và hiệu quả huy động vốn cho NSNN, bao gồm các tiêu chí đánh giá và vai trò của TPCP?
- (ii) Thực trạng hoạt động phát hành TPCP qua đấu thầu tại Việt Nam thời gian qua đạt được những kết quả nào, còn những bất cập, hạn chế và nguyên nhân gì?
- (iii) Thực tiễn hoạt động phát hành TPCP tại các quốc gia trên thế giới đem lại những bài học kinh nghiệm gì có thể tiếp thu cho Việt Nam?
- (iv) Các nhóm giải pháp đồng bộ nào cần được triển khai để hoàn thiện hoạt động phát hành TPCP nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho NSNN?
- (v) Tại sao công nghệ chuỗi khối Blockchain lại là giải pháp trọng tâm giúp hoàn thiện kỹ thuật đấu thầu phát hành TPCP và mô hình ứng dụng cụ thể được thiết kế ra sao?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động hoàn thiện phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho ngân sách Nhà nước.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào kỹ thuật phát hành và thực trạng phát hành TPCP theo phương thức đấu thầu (phương thức chiếm hơn 90% khối lượng phát hành) gắn với các tiêu chí hiệu quả huy động vốn cho NSNN và giải pháp ứng dụng công nghệ chuỗi khối.
- Phạm vi không gian: Thị trường TPCP Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế tại Anh, Thái Lan, Philippines, Áo, Đức, Hàn Quốc.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực trạng được thu thập và phân tích trong giai đoạn 2010 – 2021; các định hướng, giải pháp và mô hình dự phóng áp dụng cho giai đoạn 2021 – 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhóm chủ đề chính:
Các nghiên cứu về phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ
- Trong nước:
- Lê Anh Tuấn (2011): Phân tích lý luận và thực trạng thị trường TPCP sơ cấp và thứ cấp giai đoạn 1990 – 2009, đề xuất giải pháp phát triển thị trường giai đoạn tiếp theo.
- Lê Thị Vân Anh (2017): Tập trung vào giải pháp thu hút và sử dụng nguồn vốn huy động qua kênh phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2014.
- Lê Thị Ngọc (2019): Mở rộng nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường TPCP giai đoạn 2011 – 2017, kết hợp phương pháp định tính và định lượng để đánh giá các nhân tố tác động đến thị trường sơ cấp và thứ cấp.
- Trần Thị Thu Hương (2019): Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của thị trường TPCP trong bối cảnh hội nhập tài chính giai đoạn 2000 – 2017 dựa trên mô hình kinh tế lượng.
- Quốc tế:
- USAID (2010): Công bố cẩm nang chẩn đoán và hướng dẫn phát triển thị trường TPCP, chỉ ra 3 nhóm điều kiện tiền đề: điều kiện chung, điều kiện thị trường tiền tệ và quản lý nợ công.
- Stijn Claessens, Daniela Klingebiel, và Sergio Schmukler (2007): Phân tích các yếu tố thể chế và kinh tế vĩ mô chi phối việc lựa chọn phát hành TPCP bằng đồng nội tệ hay ngoại tệ.
Các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ Blockchain trong phát hành và giao dịch trái phiếu
- Trong nước:
- Lê Văn Lâm và Thân Thị Thu Thủy: Khái quát tiềm năng của Blockchain trong việc rút ngắn quy trình bù trừ, thanh toán và phát hành trên thị trường chứng khoán.
- Nguyễn Văn Thọ và Trần Việt Tâm (2020): Đề xuất ý tưởng xây dựng mô hình hệ thống giao dịch trái phiếu dựa trên nền tảng chuỗi khối mã nguồn mở Hyperledger Fabric.
- Lê Vũ Linh Toàn (2021): Lược khảo thực tiễn ứng dụng Blockchain tại các sàn giao dịch chứng khoán quốc tế (Mỹ, Anh, Úc, Đức, Hàn Quốc, Ấn Độ) và nhận định rào cản pháp lý.
- Quốc tế:
- Capgemini (2016): Lượng hóa chi phí phát hành khi ứng dụng Blockchain (0,9% – 1,5% đối với trái phiếu so với 3,45% phát hành riêng lẻ và 7% đối với IPO), phân tích quy trình số hóa chứng khoán thông qua hợp đồng thông minh.
- Wanli Chen và Qianxia Wang (2019, 2020): Đánh giá tác động của trái phiếu chuỗi khối (Blockchain bonds) tại thị trường vốn nợ châu Âu, chỉ ra lợi thế cắt giảm khâu trung gian và các thách thức về khả năng mở rộng, tích hợp kỹ thuật.
- Elisabeta Pana và Vikas Gangal (2021): Tổng hợp danh mục 11 tổ chức tài chính và ngân hàng quốc tế phát hành thành công trái phiếu kỹ thuật số trên nền tảng Blockchain từ năm 2017.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận thị trường TPCP ở góc độ phát triển thị trường chung hoặc nghiên cứu giải pháp vĩ mô giai đoạn trước năm 2018. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc tối ưu hóa kỹ thuật phát hành qua đấu thầu trong điều kiện kinh tế hậu đại dịch Covid-19, đồng thời thiết kế mô hình kiến trúc công nghệ cụ thể (dựa trên Hyperledger Fabric) và lượng hóa khối lượng phát hành gia tăng bằng phương pháp mô phỏng và dự phóng ngoại suy cho giai đoạn 2026 – 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Ngân sách Nhà nước và vay nợ bù đắp thâm hụt: Tiếp cận theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (Điều 4), so sánh tương quan giữa các hình thức bù đắp thiếu hụt NSNN (thuế, in tiền, ODA, vay nợ ngân hàng và phát hành TPCP). Luận án làm rõ TPCP là công cụ huy động vốn tự nguyện, bình đẳng, không chịu ràng buộc chính trị hoặc điều kiện quản lý như ODA và vay thương mại.
- Khái niệm và đặc tính TPCP: Trái phiếu Chính phủ được phân tích theo các yếu tố cấu thành: mệnh giá, kỳ hạn, lãi suất danh nghĩa (cố định hoặc thả nổi), giá phát hành (ngang giá, chiết khấu hoặc phụ trội). Ba đặc điểm kỹ thuật cơ bản gồm: tính rủi ro thấp nhất, tính sinh lời thấp và tính thanh khoản cao.
- Khung tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn cho NSNN:
- Quy mô huy động vốn: Khối lượng phát hành thực tế so với kế hoạch dự toán ngân sách và tỷ lệ huy động thành công qua các phiên đấu thầu.
- Chi phí vốn: Mức lãi suất trúng thầu danh nghĩa và chi phí thực tế phản ánh qua giá phát hành/chiết khấu dòng tiền.
- Tính thanh khoản và cơ cấu kỳ hạn: Kỳ hạn phát hành bình quân, kỳ hạn bình quân của danh mục nợ và khả năng giao dịch trên thị trường thứ cấp.
- Năng lực quản trị rủi ro và cơ cấu nhà đầu tư: Đa dạng hóa các định chế nắm giữ, giảm áp lực tái cấp vốn và tránh rủi ro biến động lãi suất.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu tại bàn, điều tra khảo sát thực tế và mô hình hóa toán học:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn và hệ thống hóa: Kế thừa, tổng hợp các số liệu, báo cáo từ Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước (KBNN), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi (Primary Survey):
- Xác định cỡ mẫu: Áp dụng công thức cỡ mẫu tối thiểu của Comrey và Lee (1992): $n = 5 \times m$ ($m$ là số lượng câu hỏi trong phiếu).
- Thực hiện điều tra: Phát trực tiếp 60 phiếu khảo sát tới các chuyên gia quản lý, cơ quan điều hành và các nhà đầu tư tham gia đấu thầu TPCP.
- Xử lý dữ liệu: Thu về 58 phiếu, loại bỏ các phiếu không hợp lệ, đưa vào phân tích chính thức 53 phiếu hợp lệ bằng phần mềm Microsoft Excel.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn chuyên sâu theo đề cương bán cấu trúc với các chuyên gia tài chính và nhà quản lý (chi tiết tại Phụ lục 2).
- Phương pháp mô phỏng và dự phóng ngoại suy: Dựa trên chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2010 – 2021 để xây dựng mô hình dự báo độ nhạy của hệ thống đấu thầu phát hành khi có sự thay đổi về tham số công nghệ (ứng dụng chuỗi khối Blockchain), lượng hóa khối lượng phát hành gia tăng tiềm năng cho giai đoạn 2026 – 2030.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về thị trường TPCP và ứng dụng công nghệ chuỗi khối trong tài chính. Tác giả phân tích các kết quả đã đạt được từ các luận án tiến sĩ của Lê Anh Tuấn (2011), Lê Thị Vân Anh (2017), Lê Thị Ngọc (2019), Trần Thị Thu Hương (2019), cùng các báo cáo của Capgemini, USAID và các bài báo quốc tế của Wanli Chen, Qianxia Wang, Elisabeta Pana. Từ việc chỉ ra khoảng trống về kỹ thuật đấu thầu và ứng dụng công nghệ số, tác giả xác định 4 đóng góp mới chính về mặt lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế và giải pháp ứng dụng công nghệ của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho ngân sách Nhà nước
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về NSNN, các hình thức bù đắp thâm hụt và bản chất kinh tế của TPCP. Luận án phân tích chi tiết các tiêu chí đo lường hiệu quả huy động vốn, bao gồm quy mô, chi phí vốn, tính thanh khoản và quản trị rủi ro nợ công.
Bên cạnh đó, chương này phân tích kinh nghiệm phát hành và quản lý TPCP tại các quốc gia:
- Vương quốc Anh: Hệ thống tạo lập thị trường (GEMMs) và quy trình phát hành qua cơ quan quản lý nợ DMO.
- Thái Lan và Philippines: Phát triển nền tảng phát hành bán lẻ trái phiếu trực tiếp qua ứng dụng di động (điển hình là ứng dụng Bonds.PH sử dụng chuỗi khối tại Philippines).
- Cộng hòa Áo: Cơ quan Quản lý Nợ công Áo (OeKB) phát hành TPCP sử dụng hệ thống công chứng dữ liệu trên nền tảng chuỗi khối Ethereum/Hyperledger.
- Cộng hòa Liên bang Đức và Hàn Quốc: Kinh nghiệm đấu thầu đa giá và phát triển thị trường repo/phái sinh hỗ trợ thị trường sơ cấp.
Từ đó, luận án rút ra 4 bài học cho Việt Nam: hoàn thiện khung pháp lý, chuẩn hóa công cụ nợ, đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư sang khu vực bán lẻ và chủ động thử nghiệm nền tảng số hóa trong khâu đăng ký, phát hành.
Chương 3: Thực trạng hoạt động đấu thầu phát hành trái phiếu Chính phủ
Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về kinh tế vĩ mô và kết quả hoạt động phát hành TPCP qua đấu thầu tại Sở GDCK Hà Nội giai đoạn 2010 – 2021:
| Chỉ tiêu thống kê thị trường TPCP Việt Nam |
Giai đoạn 2010 – 2021 |
| Tổng khối lượng vốn huy động cho NSNN |
Hơn 2,47 triệu tỷ đồng |
| Mức huy động bình quân năm |
Hơn 206 nghìn tỷ đồng/năm |
| Số lượng phiên đấu thầu tổ chức tại HNX |
Hơn 2.600 phiên |
| Tỷ lệ huy động thành công bình quân |
60% – 70% tổng khối lượng gọi thầu |
| Tỷ trọng phát hành qua phương thức đấu thầu |
Hơn 90% tổng khối lượng lưu hành |
| Lãi suất phát hành bình quân |
Giảm từ khoảng 10%/năm (2009) xuống ~2%/năm (2021) |
| Kỳ hạn phát hành bình quân |
Kéo dài lên 12,2 năm (năm 2021) |
| Quy mô thị trường TPCP sơ cấp / GDP |
Tăng từ 8,1% (2010) lên 22,7% GDP (2021) - gấp 2,8 lần |
Kết quả khảo sát 53 chuyên gia và nhà đầu tư cùng phân tích thực trạng chỉ ra các điểm nghẽn:
- Cơ cấu nhà đầu tư còn thiếu đa dạng, khối ngân hàng thương mại và Bảo hiểm Xã hội vẫn chiếm tỷ trọng chi phối lớn; tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài và cá nhân rất thấp.
- Phương thức đấu thầu đơn giá hiện hành chưa kích thích tối đa sự cạnh tranh về giá của các định chế tài chính.
- Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin vận hành tập trung khép kín, thời gian xử lý các khâu từ đấu thầu đến niêm yết, đăng ký, lưu ký và thanh toán còn độ trễ, chưa hỗ trợ trực tiếp các nhà đầu tư bán lẻ quy mô nhỏ.
Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho ngân sách Nhà nước
Chương 4 vạch ra định hướng phát triển thị trường nợ công giai đoạn 2021 – 2030, bám sát các mục tiêu an toàn nợ công và tái cấu trúc danh mục nợ của Chính phủ. Tác giả phân chia hệ thống giải pháp thành hai nhóm:
HỆ THỐNG GIẢI PHÁP
-
Nhóm giải pháp vĩ mô:
- Hoàn thiện thể chế pháp lý, thống nhất các quy định về phát hành công cụ nợ theo Luật Quản lý nợ công và Luật Chứng khoán.
- Mở rộng quy mô thị trường thông qua phát hành đa dạng kỳ hạn chuẩn (benchmark bonds).
- Tái cơ cấu cơ sở nhà đầu tư, thúc đẩy sự tham gia của các quỹ hưu trí tự nguyện, công ty bảo hiểm nhân thọ và nhà đầu tư ngoại.
-
Nhóm giải pháp vi mô:
- Nâng cấp kỹ thuật phát hành và đa dạng phương thức: Nghiên cứu áp dụng phương thức đấu thầu đa giá (nhiều mức giá) song song với phương thức đơn giá hiện hành để nâng cao tính cạnh tranh và tối ưu hóa mức lãi suất huy động cho ngân khố quốc gia.
- Đề xuất mô hình ứng dụng công nghệ chuỗi khối Blockchain vào phát hành TPCP:
- Lựa chọn nền tảng chuỗi khối liên hiệp/được cấp quyền (Permissioned Blockchain) dựa trên mã nguồn mở Hyperledger Fabric.
- Các bên tham gia mạng lưới (nodes): Bộ Tài chính/KBNN (chủ thể phát hành), Ngân hàng Nhà nước (thanh toán tiền tệ), UBCKNN & HNX (tổ chức điều hành phiên đấu thầu), VSD (quản lý sở hữu số), các thành viên đấu thầu (ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán) và nhà đầu tư cá nhân/tổ chức thông qua giao diện ứng dụng (API/Mobile App).
- Quy trình thực hiện tự động hóa qua hợp đồng thông minh (Smart Contracts): từ khâu công bố thông tin, đặt thầu, khớp lệnh, trừ tiền ký quỹ, phân bổ trái phiếu số hóa (tokenized bonds) đến thanh toán chuyển giao tức thì (DvP - Delivery versus Payment).
- Kết quả mô phỏng và dự phóng ngoại suy: Luận án tính toán mô phỏng cho thấy việc áp dụng nền tảng chuỗi khối có thể mở rộng khối lượng phát hành TPCP tăng thêm đáng kể trong giai đoạn 2026 – 2030 nhờ khai thác nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi trong dân cư và cắt giảm chi phí trung gian (dự phóng trình bày tại Biểu đồ 4.1).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn cho NSNN qua kênh phát hành TPCP bằng việc kết hợp các tiêu chí tài chính truyền thống (lãi suất, khối lượng, kỳ hạn) với các tiêu chuẩn an toàn nợ công và quản trị rủi ro vĩ mô.
- Xây dựng khung phân tích lý thuyết về việc chuyển đổi từ hạ tầng tài chính tập trung sang hạ tầng tài chính phân tán có kiểm soát (Permissioned Distributed Ledger) trong lĩnh vực nợ công.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện chuỗi số liệu 12 năm (2010 – 2021) của thị trường TPCP Việt Nam, chứng minh sự chuyển dịch tích cực về kỳ hạn (tăng lên 12,2 năm) và lãi suất (giảm xuống ~2%), qua đó khẳng định vai trò trụ cột của phương thức đấu thầu tại HNX.
- Chỉ ra các điểm nghẽn thực chứng về cơ cấu nhà đầu tư tập trung và sự hạn chế của phương thức đấu thầu đơn giá thông qua khảo sát thực tế 53 mẫu hợp lệ từ giới chuyên môn.
- Đề xuất bản thiết kế kiến trúc kỹ thuật chi tiết ứng dụng nền tảng Hyperledger Fabric trong quy trình đấu thầu phát hành TPCP, cung cấp căn cứ thực nghiệm và mô hình vận hành mẫu cho các nhà quản lý thị trường.
Kiến nghị cụ thể
- Đối với Bộ Tài chính và Kho bạc Nhà nước: Xây dựng lộ trình chuẩn hóa kỳ hạn phát hành; triển khai thí điểm cơ chế đấu thầu đa giá; xây dựng đề án thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory Sandbox) cho việc phát hành trái phiếu số hóa trên nền tảng chuỗi khối.
- Đối với Ngân hàng Nhà nước: Phối hợp xây dựng cổng thanh toán tiền tệ liên ngân hàng kết nối với hệ thống bù trừ số hóa để phục vụ cơ chế thanh toán tức thời.
- Đối với Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (VSD): Nâng cấp phần mềm đấu thầu, nghiên cứu tích hợp các giao diện lập trình ứng dụng (API) mở cho phép các định chế tài chính kết nối mạng lưới phân phối trái phiếu đến nhà đầu tư bán lẻ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Khảo sát sơ cấp có cỡ mẫu 53 phiếu hợp lệ tuy đáp ứng điều kiện toán học tối thiểu ($n = 5 \times m$) nhưng quy mô mẫu còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào các nhà quản lý và định chế đầu tư lớn tại khu vực Hà Nội.
- Phạm vi dữ liệu thực trạng kết thúc tại năm 2021, chưa phản ánh đầy đủ các biến động mạnh của thị trường trái phiếu và chính sách tiền tệ trong giai đoạn 2022 – 2023.
- Khung pháp lý và cơ chế thử nghiệm kỹ thuật (sandbox) đối với tài sản số và công nghệ chuỗi khối tại Việt Nam thời điểm nghiên cứu chưa được ban hành đầy đủ, khiến các đề xuất ứng dụng mang tính tiền khả thi và giả định mô phỏng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi khảo sát thực nghiệm với cỡ mẫu lớn hơn trên toàn quốc, bao gồm cả các nhóm nhà đầu tư cá nhân có nhu cầu mua trái phiếu bán lẻ.
- Nghiên cứu cơ chế tích hợp giữa tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương (CBDC) với hệ thống đấu thầu phát hành TPCP trên nền tảng chuỗi khối.
- Đánh giá rủi ro an ninh mạng, rủi ro bảo mật dữ liệu và chuẩn hóa pháp lý cho hợp đồng thông minh trong giao dịch nợ công.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, KBNN, NHNN, UBCKNN, HNX, VSD): Tham khảo Chương 3 và Chương 4 để hoàn thiện quy chế đấu thầu, xây dựng phương án đấu thầu đa giá và nghiên cứu đề án hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin ngành chứng khoán.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Tài chính – Ngân hàng, Quản trị kinh doanh: Tham khảo Chương 1 và Chương 2 để nắm bắt phương pháp tổng quan tài liệu, hệ thống lý luận về nợ công và mô hình số hóa chứng khoán nợ.
- Các định chế tài chính, ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán: Tham khảo mô hình kiến trúc chuỗi khối tại Chương 4 và Phụ lục 4, Phụ lục 5 để định hướng phát triển sản phẩm phân phối trái phiếu số hóa cho khách hàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng vốn TPCP huy động cho Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2010 – 2021 đạt bao nhiêu?
Trong giai đoạn 2010 – 2021, tổng khối lượng vốn huy động qua kênh TPCP đạt hơn 2,47 triệu tỷ đồng, tương ứng với mức huy động bình quân đạt hơn 206 nghìn tỷ đồng/năm.
2. Tỷ lệ phát hành thành công và quy mô thị trường TPCP thay đổi như thế nào sau hơn 10 năm?
Tỷ lệ trúng thầu bình quân đạt từ 60% đến 70% tổng khối lượng gọi thầu qua hơn 2.600 phiên đấu thầu tại HNX. Quy mô thị trường TPCP sơ cấp tăng từ mức 8,1% GDP năm 2010 lên 22,7% GDP vào cuối năm 2021 (tăng gấp 2,8 lần).
3. Lãi suất và kỳ hạn phát hành bình quân của TPCP biến động ra sao trong giai đoạn nghiên cứu?
Lãi suất phát hành bình quân giảm mạnh từ mức khoảng 10%/năm (năm 2009) xuống khoảng 2%/năm (năm 2021). Đồng thời, kỳ hạn phát hành bình quân được kéo dài lên 12,2 năm vào năm 2021, giúp giảm áp lực tái cấp vốn cho NSNN.
4. Vì sao tác giả đề xuất ứng dụng nền tảng Hyperledger Fabric cho hoạt động đấu thầu phát hành TPCP?
Hyperledger Fabric là nền tảng chuỗi khối mã nguồn mở dạng liên hiệp/được cấp quyền (Permissioned Blockchain), cho phép phân quyền kiểm soát dữ liệu giữa các cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, HNX, VSD) và thành viên thị trường, đảm bảo tính bảo mật, hiệu năng xử lý cao, không tốn chi phí năng lượng đồng thuận công cộng và phù hợp với quy định quản lý nhà nước.
5. Luận án sử dụng phương pháp nào để xác định cỡ mẫu khảo sát thực tế?
Tác giả xác định cỡ mẫu tối thiểu dựa trên công thức của Comrey và Lee (1992): $n = 5 \times m$ (với $m$ là số biến/câu hỏi). Đã phát ra 60 phiếu, thu về 58 phiếu và chọn lọc được 53 phiếu hợp lệ để đưa vào phân tích trên phần mềm Excel.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trần Anh Dũng là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về hoạt động đấu thầu phát hành trái phiếu Chính phủ gắn với hiệu quả huy động vốn ngân sách tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích chuỗi dữ liệu thực nghiệm 2010 – 2021 và kinh nghiệm quốc tế, luận án đã làm rõ các thành tựu về quy mô, kỳ hạn và lãi suất, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn cốt lõi về cơ cấu nhà đầu tư và hạ tầng kỹ thuật tập trung. Đóng góp nổi bật của luận án là việc đề xuất phương án đấu thầu đa giá kết hợp với mô hình giải pháp ứng dụng công nghệ chuỗi khối Hyperledger Fabric, mở ra hướng đi khoa học cho việc hiện đại hóa công tác quản trị nợ công quốc gia đến năm 2030.