Tổng quan nghiên cứu
Khu vực kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã nông nghiệp, giữ vai trò chiến lược trong thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu ngành nông nghiệp tại các địa bàn vùng cao đặc biệt khó khăn. Huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang có tổng diện tích tự nhiên đạt 56.309,42 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 53,08% với 29.891,81 ha và dân số đạt 82.023 người tính đến năm 2017, với trên 78% là đồng bào dân tộc Mông. Dù sở hữu tiềm năng lớn về chăn nuôi gia súc và cây đặc sản bản địa, nền kinh tế địa phương vẫn đối mặt với rào cản từ địa hình núi đá vôi hiểm trở, độ dốc trung bình 25 đến 35 độ và tình trạng thiếu nước sản xuất trầm trọng trong mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.
Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng hiệu quả kinh tế và năng lực vận hành của 38 hợp tác xã nông nghiệp cùng 27 tổ hợp tác trên địa bàn huyện Mèo Vạc trong giai đoạn chuyển đổi theo Luật Hợp tác xã năm 2012 (giai đoạn 2012 - 2017), từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2018 - 2025. Vấn đề cấp thiết đặt ra là quy mô của các đơn vị còn nhỏ lẻ, năng lực cạnh tranh thấp và mức nộp ngân sách Nhà nước đến ngày 31 tháng 7 năm 2017 chỉ đạt 1,06 tỷ đồng. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn then chốt trong việc giúp chính quyền địa phương hoàn thiện tiêu chí số 13 về hình thức tổ chức sản xuất, tạo việc làm cho hơn 51% lực lượng lao động trong độ tuổi và nâng cao thu nhập bền vững cho đồng bào vùng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế tập thể, kết hợp định nghĩa của Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Theo Luật Hợp tác xã năm 2012, hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 7 thành viên tự nguyện thành lập nhằm tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Khung phân tích tập trung làm rõ bản chất đối nhân của mô hình kinh tế tập thể, khác biệt hoàn toàn với bản chất đối vốn của doanh nghiệp thương mại. Ba khái niệm cốt lõi được vận dụng gồm: hiệu quả kinh tế (tỷ số tương quan giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào), năng lực cung ứng dịch vụ nông nghiệp (mức độ thỏa mãn nhu cầu về giống, vật tư, tiêu thụ) và chỉ số phân phối lợi ích (tỷ suất lợi nhuận trên vốn và tỷ lệ trích lập quỹ phúc lợi).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu điển hình có chủ đích. Tác giả tiến hành phân chia địa bàn thành 3 tiểu vùng kinh tế: Vùng 1 gồm 3 xã biên giới (Thượng Phùng, Xín Cái, Sơn Vĩ), Vùng 2 gồm 9 xã và 1 thị trấn núi đá thiếu nước, Vùng 3 gồm 5 xã núi đất trọng điểm lúa nước. Từ mỗi tiểu vùng, tác giả chọn 2 đơn vị làm mẫu chuyên khảo sâu (gồm Hợp tác xã Tuấn Dũng, Hợp tác xã Đại Dương, Hợp tác xã Tát Ngà, Hợp tác xã Sủng Cáng, Hợp tác xã Tam Giác Mạch, Hợp tác xã Tả Lủng và Hợp tác xã Bản Tồng), đồng thời phát phiếu điều tra khảo sát toàn diện 100% với 38 hợp tác xã nông nghiệp đang hoạt động trên toàn huyện.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Mèo Vạc và báo cáo của Phòng Tài chính - Kế hoạch giai đoạn 2012 - 2017. Dữ liệu sơ cấp được xử lý bằng phương pháp thống kê kinh tế, so sánh tuyệt đối, tương đối và phân tổ thống kê trên phần mềm chuyên dụng. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phân tích chính xác mối quan hệ giữa biến động số lượng thành viên, cơ cấu nguồn vốn và hiệu quả phân phối lợi nhuận trước và sau chuyển đổi mô hình quản trị.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, số lượng hợp tác xã tăng trưởng đột biến nhưng chất lượng chưa đồng đều. Số lượng đơn vị tăng từ 8 hợp tác xã năm 2013 lên 38 hợp tác xã năm 2017, tương đương mức tăng trưởng 375%. Sự gia tăng này chịu tác động từ chủ trương mỗi làng một sản phẩm và chỉ tiêu nông thôn mới. Tuy nhiên, kết quả đánh giá phân loại năm 2017 cho thấy chỉ có 9/38 đơn vị xếp loại Tốt (chiếm 23,68%), 7 đơn vị loại Khá (18,42%), trong khi có tới 14 đơn vị Trung bình (36,84%) và 4 đơn vị xếp loại Yếu (10,53%).
Thứ hai, kết quả tài chính còn nhiều bất cập và phân hóa sâu sắc. Năm 2015, toàn huyện có 17/22 hợp tác xã có lãi và 5 đơn vị lỗ vốn. Đến năm 2016, có 28/34 hợp tác xã làm ăn có lãi, nhưng phần lớn mức lợi nhuận chỉ đạt khiêm tốn từ 10 đến 45 triệu đồng. Điểm sáng nổi bật nhất là Hợp tác xã Tuấn Dũng chuyên sản xuất mật ong bạc hà với vốn điều lệ ban đầu 220 triệu đồng, đạt lợi nhuận 850 triệu đồng năm 2015 và tăng lên 1,15 tỷ đồng năm 2016, doanh thu bình quân hàng năm vượt 6 tỷ đồng. Ngược lại, một số đơn vị như Hợp tác xã Sơn Vũ chịu mức lỗ 100 triệu đồng hay Hợp tác xã Tam Giác Mạch lỗ 10 triệu đồng.
Thứ ba, hạn chế nghiêm trọng về trình độ nguồn nhân lực quản lý. Toàn huyện có 250 cán bộ quản lý hợp tác xã nhưng chỉ có 30 người có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên (chiếm 12%). Khảo sát trực tiếp tại ban quản trị cho thấy có 106 nhân sự tham gia điều hành trực tiếp chưa từng qua đào tạo chuyên môn; năng lực điều hành của 23/73 cán bộ quản trị bị đánh giá ở mức Yếu (chiếm 31,51%).
Thứ tư, dịch vụ nông nghiệp còn đơn điệu. Khảo sát chỉ ra chỉ có 13,16% đơn vị phát triển được dịch vụ mới và 39,47% thực hiện phân phối thu nhập theo mức độ sử dụng dịch vụ. Dù tỷ lệ hài lòng của thành viên về dịch vụ đạt 97,37%, nhưng tỷ lệ hài lòng về lợi ích kinh tế thực tế chỉ dừng lại ở mức 73,68%.
Thảo luận kết quả
Thực trạng chuyển đổi hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2012 tại Mèo Vạc mang tính hình thức ở nhiều cơ sở. Trong số 17 đơn vị đăng ký mới và chuyển đổi, phần lớn chỉ thay đổi tên gọi hoặc điều chỉnh vốn điều lệ trên giấy tờ mà chưa đổi mới phương thức sản xuất. Tâm lý xã viên vẫn còn trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước và các chương trình giảm nghèo 30a.
So sánh với bức tranh kinh tế tập thể của tỉnh Lào Cai (nơi có 141 hợp tác xã nông lâm nghiệp với thu nhập bình quân người lao động khoảng 15 triệu đồng/năm) và tỉnh Vĩnh Phúc (doanh thu hợp tác xã chuyên ngành đạt trên 900 triệu đồng/năm), mô hình tại Mèo Vạc bộc lộ sự thiếu hụt chuỗi liên kết giá trị và hợp đồng bao tiêu sản phẩm.
Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, hệ thống dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ cột thể hiện tốc độ tăng trưởng số lượng hợp tác xã giai đoạn 2013 - 2017, biểu đồ tròn phân tích cơ cấu trình độ học vấn của đội ngũ quản lý, cùng bảng ma trận so sánh doanh thu, chi phí và tỷ suất lợi nhuận giữa 3 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp của huyện.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và chuẩn hóa quy trình quản trị theo Luật Hợp tác xã năm 2012. Đến hết năm 2020, Ủy ban nhân dân huyện Mèo Vạc phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch chỉ đạo 100% hợp tác xã rà soát tư cách thành viên, ban hành quy chế tài chính minh bạch, chấm dứt tình trạng chuyển đổi hình thức và kiên quyết giải thể hoặc chuyển đổi loại hình đối với các đơn vị hoạt động yếu kém, thua lỗ kéo dài.
Thứ hai, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý thông qua đào tạo chuyên sâu. Giai đoạn 2018 - 2023, Chi cục Phát triển nông thôn và Ban chỉ đạo đổi mới kinh tế tập thể huyện cần tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ quản trị kinh doanh, kế toán hợp tác xã và marketing nông nghiệp; phấn đấu nâng tỷ lệ cán bộ có trình độ trung cấp trở lên đạt trên 50% vào năm 2023 và đạt 70% vào năm 2025.
Thứ ba, tái cấu trúc tài chính, mở rộng quy mô vốn và đa dạng hóa dịch vụ sản xuất. Các hợp tác xã cần chủ động huy động vốn góp từ thành viên, tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để đầu tư công nghệ chế biến sâu. Học tập mô hình Hợp tác xã Tuấn Dũng trong việc ứng dụng công nghệ hạ thủy phần mật ong và phát triển sản phẩm OCOP đạt chuẩn, nâng doanh thu bình quân mỗi hợp tác xã lên trên 1,5 tỷ đồng/năm trong giai đoạn 2020 - 2025.
Thứ tư, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xây dựng liên kết chuỗi giá trị nông sản gắn với du lịch. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì hỗ trợ các hợp tác xã xây dựng nhãn hiệu chứng nhận địa lý cho mật ong bạc hà, chè Shan tuyết Tát Ngà, thịt bò vàng Mèo Vạc; ký kết hợp đồng tiêu thụ với các siêu thị, nhà hàng, điểm du lịch homestay trên địa bàn Cao nguyên đá Đồng Văn trước năm 2022.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung luận văn cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:
Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý Nhà nước tại Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Hà Giang cùng các phòng ban chuyên môn huyện Mèo Vạc. Tài liệu này cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực để xây dựng quy hoạch kinh tế tập thể, phê duyệt đề án nông thôn mới và ban hành các cơ chế tài chính hỗ trợ hợp tác xã vùng đồng bào thiểu số.
Thứ hai, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc các hợp tác xã nông nghiệp tại các huyện miền núi phía Bắc. Công trình đóng vai trò như cẩm nang quản trị thực chiến, giúp các nhà quản lý nhận diện điểm nghẽn về dòng tiền, hoàn thiện sổ sách kế toán và học hỏi kinh nghiệm thương mại hóa sản phẩm từ các mô hình thành công.
Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra liên vùng, khung lý thuyết kinh tế hợp tác và kỹ thuật xử lý số liệu sơ cấp ở cấp huyện.
Thứ tư, các tổ chức phát triển quốc tế, ban quản lý dự án giảm nghèo bền vững và ngân hàng thương mại. Báo cáo cung cấp góc nhìn đa chiều về năng lực hấp thụ vốn, mức độ rủi ro tín dụng và tiềm năng sinh lời của các mô hình kinh tế nông thôn miền núi.
Câu hỏi thường gặp
Luận văn đã chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất của các hợp tác xã nông nghiệp Mèo Vạc là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở chất lượng nguồn nhân lực quản lý và quy mô tài chính hạn chế. Số liệu điều tra cho thấy có tới 88% cán bộ quản lý chưa qua đào tạo chuyên môn từ trung cấp trở lên và 31,51% ban quản trị có năng lực điều hành yếu. Tình trạng thiếu vốn và thiếu kỹ năng lập kế hoạch chiến lược khiến nhiều hợp tác xã hoạt động cầm chừng, dịch vụ nghèo nàn và lợi nhuận hàng năm chỉ đạt vài chục triệu đồng.
Vì sao số lượng hợp tác xã tại Mèo Vạc tăng nhanh từ 8 lên 38 đơn vị trong giai đoạn 2013 - 2017?
Sự gia tăng nhanh chóng này bắt nguồn từ áp lực hoàn thành tiêu chí số 13 về hình thức tổ chức sản xuất trong Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐ-TTg, cùng định hướng mỗi làng một sản phẩm của Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XVI. Tuy nhiên, tốc độ thành lập mới quá nhanh đã dẫn đến hiện tượng chuyển đổi mang tính hình thức và thiếu bền vững.
Mô hình Hợp tác xã Tuấn Dũng có những yếu tố thành công nào có thể nhân rộng?
Hợp tác xã Tuấn Dũng thành công nhờ 3 yếu tố then chốt: liên kết khoa học công nghệ với các viện nghiên cứu để ứng dụng dây chuyền hạ thủy phần mật ong, xây dựng thương hiệu bài bản gắn với Chỉ dẫn địa lý Mật ong bạc hà Mèo Vạc từ năm 2005, và đa dạng hóa hệ thống phân phối qua chuỗi siêu thị, nhà hàng. Nhờ đó, đơn vị đạt doanh thu trên 6 tỷ đồng và lợi nhuận 1,15 tỷ đồng năm 2016.
Khác biệt cơ bản giữa hợp tác xã theo Luật 2012 và doanh nghiệp thông thường được phản ánh thế nào?
Theo khung lý thuyết của luận văn, hợp tác xã mang bản chất đối nhân nhằm tối đa hóa lợi ích cho thành viên sử dụng dịch vụ, trong khi doanh nghiệp mang bản chất đối vốn nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư. Thành viên hợp tác xã vừa là người đồng sở hữu vừa là khách hàng tiêu thụ, việc phân phối lợi nhuận căn cứ vào mức độ sử dụng dịch vụ và vốn góp, đồng thời gắn liền với trách nhiệm an sinh xã hội cộng đồng.
Giải pháp nào mang tính đột phá để nâng cao hiệu quả hợp tác xã vùng cao núi đá?
Giải pháp đột phá là chuyển đổi mô hình kinh tế nông nghiệp thuần túy sang phát triển chuỗi giá trị nông sản đặc sản gắn liền với kinh tế du lịch sinh thái. Hợp tác xã cần tập trung vào các sản phẩm thế mạnh như mật ong bạc hà, bò thịt chất lượng cao, chè hữu cơ; ứng dụng công nghệ chế biến sau thu hoạch và kết nối trực tiếp vào mạng lưới cung ứng dịch vụ du lịch tại Cao nguyên đá Đồng Văn.
Kết luận
Tổng kết công trình nghiên cứu về nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Mèo Vạc, 5 kết luận cốt lõi được rút ra bao gồm:
- Số lượng hợp tác xã nông nghiệp phát triển nhanh chóng đạt 38 đơn vị vào năm 2017 nhưng chất lượng còn phân hóa lớn với 50% đơn vị xếp loại trung bình và yếu.
- Năng lực tài chính và quy mô hoạt động còn khiêm tốn, phần lớn đơn vị đạt lợi nhuận dưới 50 triệu đồng/năm và mức nộp ngân sách toàn huyện chỉ đạt 1,06 tỷ đồng.
- Nguồn nhân lực quản lý là nút thắt cơ bản với 106 cán bộ chưa qua đào tạo chuyên môn và hơn 31% cán bộ ban quản trị có năng lực điều hành yếu.
- Hoạt động chuyển đổi theo Luật Hợp tác xã năm 2012 còn mang tính hình thức, thiếu liên kết chuỗi giá trị và tỷ lệ mở rộng dịch vụ mới chỉ đạt 13,16%.
- Mô hình chuyên ngành ứng dụng công nghệ cao và gắn nhãn hiệu chỉ dẫn địa lý như Hợp tác xã Tuấn Dũng là hướng đi kiểu mẫu cần nhân rộng.
Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế tập thể vùng cao núi đá, cung cấp bộ số liệu thực chứng toàn diện tại 3 tiểu vùng sinh thái của huyện Mèo Vạc và xây dựng khung giải pháp 4 nhóm khả thi. Lộ trình thực hiện khuyến nghị được xác định theo 2 giai đoạn: giai đoạn 2018 - 2020 tập trung kiện toàn tổ chức, đào tạo nhân sự và giải thể các đơn vị yếu kém; giai đoạn 2021 - 2025 đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, liên kết chuỗi và xúc tiến thương mại nông sản OCOP.
Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm đến phát triển kinh tế hợp tác miền núi có thể khai thác toàn văn tài liệu này để ứng dụng vào công tác hoạch định chính sách, giảng dạy và triển khai các dự án phát triển nông nghiệp bền vững.