Đặt vấn đề Trong phong trào phát triển mô hình kinh tế hợp tác xã (HTX) của cả nước, An Giang là một trong những tỉnh đi đầu của phong trào đó và cũng đã gặp không ít khó khăn. Sau một thời gian hoạt động mô hình HTX đã bộc lộ những hạn chế làm cho khá nhiều HTX bị phá sản hay sản xuất không hiệu quả cho đến khi Luật HTX kiểu mới ban hành (năm 1996) đã khẳng định vị trí, vai trò của HTX trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Cho đến nay, mô hình HTX An Giang tăng cả về mặt số lượng và hiệu quả hoạt động với hình thức hoạt động ngày càng mở rộng. Tuy giá trị đóng góp của kinh tế HTX trong tổng thu nhập của cả nước nói chung của tỉnh An Giang nói riêng là không đáng kể nhưng có giá trị về mặt xã hội rất lớn, HTX ra đời đã giải quyết một số lao động tại địa phương, thông qua công tác thị trường của HTX giúp nông dân đầu ra sản phẩm nông sản dễ dàng hơn và họ mạnh dạn đầu tư sản xuất.
Sự tồn tại và phát triển mô hình HTX cho thấy nhu cầu liên kết hợp tác trong sản xuất – kinh doanh là cần thiết, nhất là lĩnh vực nông nghiệp trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật để tạo nên chất lượng sản phẩm đồng loạt và khối lượng sản phẩm lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thi trường. Với yêu cầu đó, HTX.NN Hoà Thuận được thành lập (năm 1997) theo kiểu HTX kiểu mới. Giống như các HTX khác ở An Giang, HTX.NN Hoà Thuận lúc đầu cũng thực hiện dịch vụ bơm tưới lúa 3 vụ cho các xã viên và ngay năm đầu hoạt động HTX đã có lãi. Từ thành công ban đầu HTX.NN Hoà Thuận ngoài dịch vụ bơm tưới đã mở rộng thêm hoạt động kinh doanh - dịch vụ như: dịch vụ đầu tư và bao tiêu trồng bắp thu trái non do HTX liên kết và hợp đồng với Công ty Dịch Vụ Kỹ Thuật Nông Nghiệp tỉnh (Antesco), dịch vụ chăn nuôi bò cho hộ xã viên,…các hoạt động HTX hằng năm thu lãi trên 60.
Cán bộ quản lý HTX được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhằm quản lí thêm các dịch vụ theo yêu cầu sản xuất của xã viên như: cung ứng vật tư nông nghiệp, dịch vụ lúa giống, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, công cụ sau thu hoạch,…để thực hiện được cần có thêm nguồn vốn nhưng HTX cũng đang trong tình trạng khó khăn chung của các HTX trên cả nước đó là thiếu vốn hoạt động và trang thiết bị. Vì vậy những phúc lợi mà HTX đem lại cho xã viên còn hạn chế. HTX chưa có kế hoạch cụ thể, thiết thực để giúp hộ xã viên có đầu ra cho sản phẩm mà chủ yếu là lúa. Vì thu nhập 5 chủ yếu của hộ xã viên từ lúa nhưng trong thời gian gần đây giá cả hàng nông sản bấp bênh và ngày càng có xu hướng không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất lúa gạo nói riêng; thêm vào đó các mặt hàng phục vụ cho ngành nông nghiệp lại tăng cao như phân bón điển hình như phân urê, vào năm 2002 nhập khẩu phân urê từ Nga là 110 USD/tấn nhưng đến 09/2004 giá urê đã đạt kỷ lục là 270 USD/tấn.
Vì thế người sản xuất nông nghiệp càng ít có cơ hội đạt được hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất của họ, tuy năm nào HTX cũng có lãi nhưng lãi cổ phần còn quá thấp (128.000 đồng/cổ phần/năm). Do đó đa số xã viên sản xuất nông nghiệp đời sống vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Đó là lý do thực đề tài "Điều tra và đánh giá tình hình kinh tế hộ của xã viên HTX.NN Hòa Thuận huyện Chợ Mới tỉnh An Giang " để có thể nắm rõ hơn tình trạng đời sống vật chất và nguyện vọng của các xã viên. Mục tiêu nghiên cứu Điều tra tình hình kinh tế tài chính của các xã viên trong HTX.NN Hoà Thuận.
Phân tích và tổng hợp các số liệu điều tra để hiểu được tình hình kinh tế hộ và đánh giá được mô hình kinh tế nào là phù hợp. Nêu ra những khó khăn và thuận lợi chung về đời sống kinh tế, điều kiện tự nhiên của người dân trong xã. Đề xuất hướng để khắc phục đối với lãnh đạo các cấp. 6 Chương 2 : LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.
Lịch sử hình thành HTX An Giang Theo Lê Minh Tùng (2004), An Giang là tỉnh sớm có hình thức hợp tác dưới dạng tổ đoàn kết sản xuất từ năm 1976, bắt đầu từ tổ đường nước số 18 ở Phú Lâm (huyện Phú Tân) và đến tháng 10/1978 mới bắt đầu tổ chức các tập đoàn sản xuất, hợp tác xã trên diện rộng. Đến cuối năm 1980, An Giang đã tổ chức được 347 tập đoàn sản xuất, 6 hợp tác xã, 1.693 tổ đoàn kết sản xuất và 69 tập đoàn máy và đến ngày 30/4/1985, An Giang công bố hoàn thành cơ bản hợp tác hoá nông nghiệp với gần 80% ruộng đất được tập thể hoá. Lúc bấy giờ, toàn tỉnh có 2.607 tập đoàn sản xuất, 7 hợp tác xã, tập thể hoá 93% diện tích canh tác, trong đó gần 100% diện tích lúa, 29% diện tích màu, 86% hộ nông dân vào các hình thức tập thể hoá. Tuy nhiên, chất lượng các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất lúc bấy giờ được đánh giá là loại khá chỉ có 11%, còn lại 89% là trung bình và kém.
Đứng trước tình hình đó, Đại hội tỉnh Đảng bộ An Giang lần thứ IV (tháng 10/1986) đã nghiêm túc đánh giá tình hình và đề ra các chủ trương, biện pháp để tháo gỡ ách tắc trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Đây là thời điểm An Giang tập trung đổi mới tư duy về các vấn đề kinh tế, xã hội và có thể nói, quá trình phát triển kinh tế xã hội của An Giang đã bước qua trang sử mới. Từ Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ IV, An Giang đã chủ trương phát triển nông thôn và từng bước cải thiện đời sống nông dân. Một trong những chính sách quan trọng khác tác động đến sản xuất nông nghiệp, đó là chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, đồng thời coi trọng việc xây dựng các hình thức hợp tác trong sản xuất nông nghiệp một cách thích hợp.
Từ năm 1991, các hình thức tổ chức hợp tác thích hợp theo ngành nghề lần lượt ra đời. Các hộ nông dân với tư cách là những đơn vị kinh tế tự chủ đã tìm đến với nhau, hình thành các tổ hợp tác mới, phổ biến nhất là các tổ nông dân liên kết sản xuất, tổ liên doanh, tổ ngành nghề (như nuôi tôm, cá bè, nuôi heo, làm vườn), tổ 7 đường nước, tổ liên kết vay vốn,…các loại hình kinh tế này thể hiện rõ nét bản chất tương trợ của các hộ thành viên và các hộ nông dân tham gia với tinh thần tự nguyện. Từ năm 1996, sau khi luật hợp tác xã được quốc hội thông qua (20/3/1996) và chính phủ ban hành điều lệ mẫu về hợp tác xã nông nghiệp (29/4/1997), An Giang bắt đầu tổ chức thí điểm các mô hình chuyển đổi từ tổ nông dân liên kết sản xuất dần lên hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới. Đến cuối tháng 9/1999, đã thành lập được 70 hợp tác xã nông nghiệp theo luật hợp tác xã với 7.180 xã viên, diện tích 14.000 cổ phần xã viên tham gia, vốn điều lệ 7,2 tỷ đồng.
Hợp tác xã được hình thành trên cơ sở kinh tế nông hộ. Hoạt động của hợp tác xã là tổ chức làm dịch vụ phục vụ sản xuất nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho hộ xã viên và cho hợp tác xã. Nông dân tham gia hợp tác xã trên tinh thần tự nguyện, cùng góp vốn, góp sức và cùng có lợi chung. Hiện trạng, tình hình hoạt động, thành tựu HTX An Giang * Hiện trạng Theo TTXVN (2005), trong số các HTX nông nghiệp có 106 HTX dịch vụ nông nghiệp và 6 HTX thuỷ sản, khi mới hình thành tất cả các HTX nông nghiệp chủ yếu chọn "thủy lợi phí" dịch vụ bơm tưới làm khâu "đột phá".
Nếu như trong những năm 2000 - 2002 lũ lụt liên tiếp làm cho giá lúa không ổn định, sụt giảm mạnh, bên cạnh đó hệ thống tưới tiêu nội đồng và mặt bằng đồng ruộng chưa hoàn chỉnh đã làm ảnh hưởng đến dịch vụ bơm tưới của các HTX, dẫn đến nợ khó đòi phổ biến hàng năm từ 30% - 35% và kéo dài trong nhiều năm. HTX nông nghiệp ở An Giang còn có đội ngũ cán bộ quản lý hầu hết là nông dân, trình độ học vấn thấp, không có chuyên môn là điều kiện khó khăn lớn nhất trong chủ trương phát triển mạnh kinh tế hợp tác trong điều kiện kinh tế thị trường. * Tình hình hoạt động của một số HTX Cũng theo TTXVN (2005), từ khi có đề án phát triển HTX nông nghiệp 2001- 2005, tỉnh An Giang đã tiến hành thành lập HTX kiểu mới và đã khẳng định được vai trò, vị trí, tầm quan trọng trong sản xuất, kinh doanh giải quyết số lượng lớn hàng hóa nông sản mang lại hiệu quả thiết thực cho xã viên làm nghề nông. Các HTX 8 hoạt động đa năng không còn bó hẹp trong dịch vụ bơm tưới mà tích cực chuyển hướng hoạt động theo phương châm "nâng cao chất lượng phong trào kinh tế hợp tác".
Từng HTX có phương thức hoạt động riêng, khắc phục được nhược điểm trong công tác quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh như: HTX nông nghiệp Hưng Phát (huyện Châu Phú) ra đời năm 2003, ngoài dịch vụ truyền thống HTX còn chủ động thành lập đại lý phân bón nông dược phục vụ sản xuất trọn gói cho xã viên không tính lãi. Mới đây vào trung tuần tháng 6/2005 HTX đã giới thiệu ra thị trường sản phẩm mới "gạo thơm Hưng Phát" có giá 6. Đây là mô hình mới do HTX đã mạnh dạn vay 100 triệu đồng từ Quỹ hỗ trợ phát triển HTX của tỉnh đầu tư mở rộng mô hình hoạt động mới "sản xuất gạo sạch, sử dụng công nghệ thu hoạch, phơi sấy, chế biến tiên tiến theo qui trình sản xuất khép kín". Hiện nay mỗi năm HTX có khả năng đáp ứng cho thị trường 1.500 tấn gạo thành phẩm/năm.
Ngoài ra, Công ty Vĩnh Lợi thu mua gạo sạch của HTX có bù chi phí 20%, Công ty Angimex, nhà máy An Giang 5, doanh nghiệp tư nhân Minh Tuấn bao tiêu 3.