Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ 1. Khái lƣợc sự hình thành và phát triển của Hội đồng nhân dân xã trong lịch sử lập pháp của nƣớc ta 1. Giai đoạn Hiến pháp 1946 Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến hàng ngàn năm, xóa bỏ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đế quốc kéo dài gần 100 năm trên lãnh thổ nước ta. Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc xây dựng và củng cố chính quyền địa phương.
Từ đó, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung và chính quyền xã nói riêng. Văn bản pháp luật đầu tiên về HĐND là Sắc lệnh số 63/SL về tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính (UBHC) ở các xã, huyện, tỉnh và kỳ do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 22 tháng 11 năm 1945. Tại Điều thứ 1 của Sắc lệnh quy định: "…Ở hai xã và tỉnh có HĐND và UBHC, ở các cấp huyện và kỳ chỉ có UBHC …"; Điều thứ 2 quy định: "Ở mỗi xã sẽ đặt một HĐND gồm có từ 15 đến 25 hội viên chính thức và từ 5 đến 7 hội viên dự khuyết…"[2]. Sau đó là các Sắc lệnh sửa đổi Sắc lệnh số 63/SL, gồm có: Sắc lệnh số 22A/SL ban hành ngày 18 tháng 02 năm 1946 về việc tổ chức các HĐND và UBHC do Chính phủ lâm thời ban hành sửa đổi Điều thứ 65 của Sắc lệnh số 63; Sắc lệnh số 10/SL ngày 10/01/1946 do Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành để sửa đổi Điều thứ 32, Điều thứ 33, Điều thứ 53 trong Sắc lệnh số 63/SL ngày 22 tháng 11 năm 1945.
Theo quy định tại các Sắc lệnh này, chính quyền địa phương có 4 cấp: cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và xã, trong đó cấp tỉnh và xã là 2 cấp chính quyền hoàn 10 Luan van chỉnh có HĐND và UBHC, cấp kỳ và cấp huyện chỉ có UBHC. Chính quyền xã gồm có HĐND và UBHC xã, HĐND do cử tri xã bầu ra có từ 15-25 hội viên chính thức và 5-7 hội viên dự khuyết; có quyền quyết định những vấn đề ở xã, nhưng có những vấn đề phải được Ủy ban hành chính cấp huyện, tỉnh chuẩn y; còn UBHC xã do HĐND xã bầu trong số các hội viên HĐND; UBHC xã có nhiệm vụ thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, thực hiện Nghị quyết của HĐND cùng cấp, triệu tập các kỳ họp HĐND xã và giải quyết các công việc trong xã. Ngày 9/11/1946, Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (gọi tắt là Hiến pháp 1946), đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Theo Hiến pháp 1946, tổ chức chính quyền địa phương mỗi cấp nói chung và xã nói riêng về cơ bản vẫn như Sắc lệnh 63/SL.
Hiến pháp 1946 đã xác định vai trò quan trọng của HĐND, mối quan hệ giữa HĐND với cấp trên. Điều thứ 59 Hiến pháp 1946 quy định: “HĐND quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình. Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên”[45]. Ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương, đây là đạo luật đầu tiên quy định về cách thức tổ chức HĐND.
Theo quy định tại Điều 3 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 thì “HĐND các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân bầu ra. Số lượng đại biểu HĐND mỗi cấp và cách thức bầu cử do Luật Bầu cử quy định”[46]. Giai đoạn Hiến pháp năm 1959 Năm 1954, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 07/5/1954, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, miền Nam còn nằm dưới sự kiểm soát của đế quốc Mỹ. Đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành 2 miền, miền Bắc có nhiệm 11 Luan van vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà.
Để đáp ứng và phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong tình hình mới, Quốc hội đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1946. Sau một thời gian nghiên cứu, soạn thảo, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Hiến pháp 1959 để thay thế Hiến pháp 1946. Trên cơ sở Hiến pháp 1959, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II ngày 27 tháng 10 năm 1962 đã thông qua Luật Tổ chức HĐND và UBHC các cấp, có hiệu lực thi hành từ 11/11/1962. Luật Tổ chức HĐND và UBHC năm 1962 đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1959 về tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương làm cơ sở pháp lý cho việc kiện toàn chính quyền địa phương.
Theo quy định của Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức HĐND và UBHC năm 1962, các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được phân định: Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn. Các khu tự trị chia thành tỉnh; tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn. Các thành phố có thể chia thành khu phố ở trong thành và huyện ở ngoài thành. Các đơn vị hành chính này đều có HĐND và UBHC.
Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương thời điểm này so với trước đã có nhiều thay đổi: - Xác định rõ địa vị pháp lý của HĐND và UBHC: HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương (vừa thay mặt cho nhân dân địa phương, vừa thay mặt cho nhà nước ở địa phương); UBHC là cơ quan chấp hành của HĐND, đồng thời là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương; - Luật Tổ chức HĐND và UBHC là cơ sở pháp lý chung cho tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương không phân biệt nông thôn hay thành 12 Luan van phố; hạn chế, thu hẹp những vấn đề chính quyền cấp trên phê chuẩn những quyết định của cấp dưới (trừ những vấn đề quan trọng như phê chuẩn kết quả bầu cử hay bãi miễn…); - Số lượng thành viên của các cơ quan trong bộ máy chính quyền địa phương được bổ sung tăng lên, trong đó HĐND xã được bầu từ 20-30 đại biểu chính thức; UBHC xã từ 5-7 người (xã miền núi có nhiều dân tộc từ 7-9 người); - Nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp chính quyền mở rộng, cụ thể ở xã được quy định như sau: HĐND khu phố quyết định các chủ trương và biện pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá trong khu phố do thành phố giao cho; quyết định việc xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá và xã hội của cấp khu phố; xét duyệt dự trù và quyết toán chi tiêu của khu phố. HĐND xã, thị trấn quyết định kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá và những sự nghiệp lợi ích công cộng của xã, thị trấn; xét duyệt dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân sách của xã, thị trấn; ban hành những quy định về trật tự trị an, về vệ sinh chung của xã, thị trấn… 1. Giai đoạn Hiến pháp năm 1980 Mùa xuân năm 1975, với thắng lợi trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước ta được thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta tiến hành tổng tuyển cử tự do trong cả nước, thực hiện thống nhất Tổ quốc, cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tháng 7 năm 1976, nước ta lấy tên là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, ngày 30/12/1980 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm 1980 làm cơ sở cho việc xây dựng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước, xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước thống nhất, trong đó có tổ chức chính quyền địa phương. Theo Hiến pháp năm 1980 13 Luan van quy định thì các đơn vị hành chính ở nước ta đã có sự thay đổi so với Hiến pháp năm 1959, cụ thể Điều 113 quy định: Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã và thị trấn; Thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; Quận chia thành phường. Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập HĐND và UBND[37].
Thiết chế HĐND được quy định rõ tại Chương IX, Hiến pháp năm 1980. Để cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1980 về thiết chế HĐND, ngày 30 tháng 6 năm 1983, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Tổ chức HĐND và UBND, thay thế Luật Tổ chức HĐND và UBHC các cấp năm 1962. Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983, chính quyền địa phương chỉ có 3 cấp là cấp tỉnh, cấp huyện và xã (xã bao gồm xã, phường, thị trấn); vị trí pháp lý của các cơ quan trong bộ máy chính quyền địa phương cơ bản vẫn giữ nguyên, UBHC được đổi thành UBND; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được tăng cường hơn trước nhiều. Riêng xã, HĐND được bầu từ 15-45 đại biểu (tùy theo dân số, vùng, miền), nhiệm kỳ là 2 năm, thực hiện các chủ trương, chính sách và công tác của Nhà nước ở địa phương [40].
Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới đất nước. Để phù hợp trong điều kiện mới, năm 1989, Quốc hội ban hành Luật Tổ chức HĐND và UBND thay thế Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 14 Luan van 1983. Theo luật mới số lượng đại biểu HĐND xã từ 15-35, nhiệm kỳ hoạt động là 5 năm, thành lập Ban thư ký HĐND xã; còn đối với UBND thì cơ bản không thay đổi.