Chương 1: Tổng quan van đề nghiên cứu và cơ sở lý luận hiệu quả hoạt động gia công hàng may mặc xuất khâu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng gia công hàng may mặc xuất khẩu tại công ty TNHH Maxport Chương 4: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động gia công xuất khẩu Kết luận CHUONG 1: TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN HIỆU QUÁ HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG HÀNG MAY MẶC XUẤT KHẨU 1. Hoạt động gia công hàng may mặc xuất khau, vai trò vị trí trong phát triển kinh tế - xã hội 1. Tình hình hoạt động gia công hàng may mặc xuất khẩu trên thế giới Sau quá trình lịch sử hình thành và phát triển, ngành may mặc toàn cầu đã có những thay đổi đáng ké, từ trang phục được may theo số đo từng người với chi phí đắt đỏ đến việc sản xuất phục vụ nhu cầu đại chúng với chi phí thấp. Từ kiểu dáng, mẫu mã, chất liệu, màu sắc đến thời gian sử dụng và phát triển các sản phẩm mới cũng liên tục được thay đổi đòi hỏi các quốc gia luôn cập nhật và khẳng định thương hiệu và vị trí trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.
Từ sau giai đoạn 2000 - 2008, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khâu có xu hướng giảm dần. Tuy vẫn tăng trưởng với tốc độ 7- 8%/năm, nhưng tăng trưởng xuất nhập khẩu may mặc toàn cầu khó có thể đạt được mức tăng trưởng cao trong giai đoạn những năm 1990. Đến năm 2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu là nguyên nhân khiến chi tiêu cho các sản phẩm may mặc giảm, đạt mức tăng trưởng âm (- 1,7%/năm). Trong giai đoạn tiếp theo 2010 — 2015, tăng trưởng xuất nhập khẩu may mặc hồi phục ở mức tăng trưởng 3,5%, lớn hơn tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu trong cùng giai đoạn (2,5%).Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng hàng may mặc cũng đang có xu hướng giảm dan tuy nhiên van cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Điều này cho thấy ngành dệt may đang ở giai đoạn tăng trưởng trong vòng đời của ngành. Quy mô thị trường dệt may thế giới năm 2012 đạt 1.105 tỷ USD; chiếm khoảng 1.5% GDP toàn cầu. Năm 2016 quy mô doanh thu ngành dệt may toàn cầu đạt 1.323 tỷ USD, chiếm 1.7% GDP toàn cầu (2012: 1,5% GDP).Toàn bộ ngành thời trang thế giới nếu coi như một quốc gia thì ngành dệt may thé giới xếp thứ 13 trong các nền kinh tế lớn nhất thế giới.Theo Euromonitor, quy mô doanh thu ngành dệt may toàn cầu sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức CAGR 4.6%/năm từ 2016, do tiêu thụ sản phẩm may mặc toàn cầu tăng cũng như tăng giá bán trung bình sản phẩm dệt may đặc biệt tại các nước đang phát triển. Riêng năm 2016, kim ngạch xuất khâu hàng may mặc các nước đang phat triển đạt 300 tỷ USD (chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch toàn cầu).
Năm 2001, kim ngạch xuất khâu của các nước này đạt 91 tỷ USD (chiếm 50% toàn cầu). Tốc độ tăng trưởng trong vòng 15 năm của khu vực các quốc gia đang phát triển là 8,3%/năm, trong khi tốc độ này chỉ là 2,8% cho khu vực còn lại.Xét trong khu vực, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ là các quốc gia có kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc lớn (chiếm 53% kim ngạch xuất khâu hàng may mặc toàn cầu).Các quốc gia đang phát triển khác như Indonesia, Campuchia, Tunisia, Myanma. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu chỉ ở mức thấp tuy nhiên cũng đang có tốc độ tăng trưởng vượt bậc. Các quốc gia này được kỳ vọng sẽ tiếp tục đón đầu làn sóng dịch chuyên công đoạn sản xuất hàng may mặc từ Trung Quốc trong thời gian tớiEU, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản hiện tại là thị trường tiêu thụ lớn nhatchiém hơn 75% tông giá trị dệt may toàn cầu.
Các thị trường lớn tiếp theo là Brazil, An Độ, Nga, Canada, Úc chiếm 18% tổng giá trị dệt may. Các quốc gia khác chỉ chiếm 7% quy mô thị trường dét may toan cau. Tốc độ tăng trưởng doanh thu tại thị trường phát triển như EU, Mỹ, Nhật Bản tương đối thấp (từ 0 - 2%) so với tốc độ tăng trưởng doanh thu của Trung Quốc (xấp xi 6%) và An Độ (9%).Kim ngạch xuất khẩu năm 2015/2016 của An Độ đạt 36,7 tỷ USDlà nước xuất khẩu dệt đứng thứ 2 thé giới và may đứng thứ 6 thé giới. Tình hình may mặc xuất khẩu tại Việt Nam Theo số liệu từ Bộ Công Thương, tính đến giữa năm 2012 có gần 1.390 dự án FDI đầu tư với số vốn đăng ký 6,12 tỷ USD vào lĩnh vực may mặc.
Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu may mặc Việt Nam đạt 17,9 tỷ USD; tăng 18,5% so với cùng kỳ; chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khâu Việt Nam.Cao điểm trong thu hút FDI vào may mặc là giai đoạn 2014 - 2015. Chỉ tính riêng năm 2014, làn sóng dịch chuyển đầu tư may mặc để đón đầu các hiệp định thương mại lớn mà Việt Nam tham gia đã khiến 83 dự án FDI mới đồ vào Việt Nam với số vốn đăng ký 1,64 tỷ USD, với 11 dự án sợi, 14 dự án dệt và đặc biệt có tới 58 dự án may; đưa năng lực sản xuất tăng thêm khoảng 20% và dự kiến năng lực sản xuất sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu ngành may mặc Việt Nam đạt 26,7 tỷ USD tuy nhiên nguyên phụ liệu may mặc đã lên tới 16 tỷ USD, chỉ có 10,7 tỷ USD ở trong nước. Trong 10,7 ty đó, khoảng 2/3 là chi phí lương cho lao động, còn lại khoảng 3 tỷ USD là giá trị tăng thêm khác.
Điều này đã lý giải vì sao kim ngạch xuất khẩu ngành may mặc năm 2016 đạt giá trị lớn thứ 2 chỉ sau ngành điện tử nhưng giá trị gia tăng không cao và vì một nửa số đó chúng ta đã phải chi cho nhập khâu nguyên liệu vải. Năm 2017, dự kiến gia tri xuất khâu ngành may mặc sẽ đạt từ 30 — 35 tỷ USD tuy nhiên giá trị nhập khâu vải dự kiến cũng sẽ đạt 11 tỷ USD.Trong 9 tháng đầu năm 2017, ngành may xuất khâu đạt 19,2 tỷ USD tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2016. Theo số liệu thống kê năm 2015, ngành sản xuất hàng may mặc Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở công đoạn sản xuất, chủ yếu theo phương thức CMT (65%) và FOB (30%) và ODM (5%). Đối với phương thức sản xuất CMT, đơn vi sản xuất chỉ thực hiện cắt may, dựng và hoàn tat, với nguyên vật liệu và thu mua hàng hóa sau sản xuất do bên đặt hàng thực hiện do đó giá trị gia tăng rất thấp.
Thông thường đơn giá gia công CMT là 25% giá trị xuất khâu và lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp gia công chi đạt 1 - 3% đơn giá gia công. Đối với đơn hàng FOB, các doanh nghiệp chịu trách nhiệm nhập khẩu nguyên vật liệu và sản xuất đơn hàng, doanh nghiệp được hưởng khoảng 30% giá trị xuất khẩu và lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 3 - 5% doanh thu thuần. Đối với đơn hàng ODM, các doanh nghiệp chịu trách nhiệm thêm khâu thiết kế so với FOB, lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 5 - 7%. Như vậy với kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của các doanh nghiệp Việt Nam là 9,4 tỷ USD năm 2016.
xét về quy mô xuất khẩu, kim ngạch xuất khâu hàng dét may là rất lớn, nhưng thực chất các doanh nghiệp Việt Nam chỉ được hưởng lợi rất thấp. Một số khái niệm có liên quan đến gia công xuất khẩu 1.1 Khái niệm về phát triển xuất khẩu Theo lý thuyết tăng trưởng va phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển thi phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tong hợp: GNP, GNP/dau người hay GDP, GDP/đầu người. thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nên kinh tế - xã hội, mà trước hết là sự chuyền dich cơ cau kinh tế theo hướng CNH, HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thê hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ mất của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học — kỹ thuật vào phát triển kinh tế xã hội.
Với nội hàm rộng lớn trên, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn điện nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội. Căn cứ vào khái niệm phát triển kinh tế vừa chỉ ra trên, ta có thésuy ra phat triển xuất khâu đó là quá trình biến đổi xuất khẩu về mọi mặt từ mặt lượng đên mặt chất, bao gồm sự gia tăng về quy mô sản lượng và doanh thu xuất khẩu cũng như sự biến đổi về chất lượng sản phẩm, cơ câu xuất khẩu, theo hướng tối ưu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả xuất khẩu trong một thời kỳ nhất định. Phát triển xuất khâu hàm chứa ba nội dung sau: - Sự gia tăng về quy mô: Có thé hiểu đó là việc gia tăng kim ngạch, san lượng xuất khẩu, nâng cao tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Đây chính là sự mở rộng phát triển xuất khẩu theo chiều rộng hay cũng có thé coi là việc mở rộng quy mô.
Tuy nhiên, sự mở rộng quy mô xuất khâu không phải lúc nào cũng là lựa chọn tối ưu cho nganh hàng mà mở rộng quy mô cần phải phủ hợp với tiềm lực và phát huy được lợi thế của ngành hàng. - Sự thay đổi chất lượng xuất khẩu: Đây không chỉ đơn giản là việc nâng cao chât lượng của sản phâm xuât khâu, mà nó còn thê hiện ở các khía cạnh khác như: sự thay đôi, chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực thương mại cho xuất khâu cùng các hoạt động xúc tiến thương mại cho hàng hóa đó, đầu tư và các hoạt động hỗ trợ cho việc xuất khâu dé nâng cao sức cạnh tranh. - Tinh tối wu và hiệu quả trong phát triển xuất khẩu: Đó là việc nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực trong hoạt động xuất khâu nhằm đạt tới những mục tiêu xác định.