CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các học thuyết về thảo luận nhóm Thuyết tương thuộc xã hội Tương tác với người khác là điều cơ bản cho sự tồn tại của con người. Trong dạy học, sự tương thuộc xã hội liên quan đến sự nỗ lực của HS để phát triển mối quan hệ tích cực, điều chỉnh tâm lí và thể hiện kĩ năng xã hội.
Tiền đề của học thuyết tương thuộc xã hội về hợp tác nhóm giả định rằng: cách mà tương thuộc xã hội được xây dựng chỉ ra cách mà mọi người tác động lẫn nhau. Một trong những yếu tố quan trọng là phải xây dựng được những lớp học trong đó sự hợp tác có tồn tại. Kết quả là sự hợp tác dẫn đến các mối tương thuộc được đẩy mạnh khi những thành viên động viên và khuyến khích tinh thần nỗ lực học tập. Thuyết tương thuộc xã hội bắt đầu được nghiên cứu vào những năm đầu tiên của thập niên 1990, một trong những người sáng lập của Trường Tâm lí học Gestalt, Kurt Koffka đề xuất rằng “nhóm là động lực cho toàn bộ sự tương thuộc của các thành viên”.
Năm 1920 – 1930 đồng nghiệp của Koffka, Kurt Lewin đã tinh chế khái niệm của ông khi nói rằng: “Bản chất của một nhóm là sự tương thuộc với nhau giữa các thành viên với mong muốn hoàn thành tốt các mục tiêu chung”. Cuối năm 1940, Morton Deutsch một học trò xuất sắc của Lewin đã mở rộng lí luận về thuyết tương thuộc xã hội của thầy, xây dựng một lí thuyết hợp tác và cạnh tranh. Trải qua quá trình nghiên cứu vai trò của sự tương thuộc xã hội về hợp tác nhóm, thuyết tương thuộc xã hội phát biểu rằng: “Nỗ lực hợp tác được dựa trên động cơ bên trong phát triển bởi những nhân tố cá nhân khi làm việc tập thể và nguyện vọng chung để đạt được một thành quả có ý nghĩa. Tập trung vào những khái niệm liên quan đến giải quyết mối quan hệ giữa các cá nhân”.
Thuyết phát triển nhận thức 8 0 0 9 Triển vọng phát triển nhận thức được đặt nền móng bởi nghiên cứu của Jean Piaget với thuyết mâu thuẫn nhận thức xã hội đã cho rằng: “Trong khi tương tác cùng nhau, mâu thuẫn nhận thức xã hội xuất hiện đã tạo ra sự mất cân bằng về nhận thức giữa mọi người. Các cuộc tranh luận diễn ra liên tục và được giải quyết. Trong quá trình đó, những lí lẽ, lập luận chưa đầy đủ sẽ được bổ sung và điều chỉnh. Như vậy, học là một quá trình xã hội, trong đó, con người liên tục đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn nhận thức”.
Thuyết thái độ học tập Lí thuyết hành vi học tập được xây dựng trên những đóng góp của Skinner (nhóm ngẫu nhiên); Homans & Kelley (sự cân bằng giữa giải thưởng và trí tuệ); Mesch – Lew – Nevin (ứng dụng của học nhóm). Kết hợp vai trò của ba nhóm lại, học thuyết thái độ học tập cho rằng: “Những nỗ lực hợp tác được tăng cường bởi những động cơ bên ngoài để đạt được giải thưởng nhóm”. Hay như PGS. Nguyễn Hữu Châu đã khái quát học là quá trình cá nhân tự tái tạo kiến thức cho mình nhưng đó là những kiến thức thông qua tương tác với các cá nhân khác, với xã hội và thực tiễn mà có.
Từ đó, quan niệm về việc học, quan niệm về hoạt động dạy và PPDH cũng thay đổi. Hoạt động dạy học là hoạt động của GV nhằm tổ chức và hướng dẫn hoạt động học của người học để họ tự khám phá và thực hiện nhiệm vụ học tập. Học tập chịu sự tác động của các tác nhân nhận thức, xã hội, văn hóa liên nhân cách do vậy dạy học phải tổ chức các dạng hoạt động đa dạng, HS tự phát hiện, tìm tòi kiến thức, phải có sự hợp tác, gắn kết, chia sẻ, trách nhiệm và lợi ích. Cơ sở về tâm lí học 1.
Nhận thức cảm tính Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. Tri giác: tri giác của HS tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang 9 0 0 10 tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,. Nhận thức lí tính Tư duy của học sinh tiểu học Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. Đặc điểm tư duy của HS tiểu học mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động.
Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát. Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông HS tiểu học. Tưởng tượng của học sinh tiểu học Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.
Đặc điểm tưởng tượng của HS tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau: ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi; ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,. Đặc biệt, 10 0 0 11 tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện. Trí nhớ của học sinh tiểu học Trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm đã có của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn, và tái tạo lại sau đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, xúc cảm, hành động hay suy nghĩ trước đây. Nếu cảm giác, tri giác chỉ phản ánh được sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan, thì trí nhớ phản ánh các sự vật, hiện tượng đã tác động vào ta trước đây mà không cần sự tác động của chúng trong hiện tại. Nói cách khác, trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của con người.
Sản phẩm của trí nhớ là biểu tượng. Đó là hình ảnh của sự vật, hiện tượng nảy sinh trong óc ta khi không có sự tác động trực tiếp của sự vật, hiện tượng vào các giác quan ta. Đặc điểm trí nhớ của HS tiểu học còn mang tính trực quan - hình tượng và được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ logic. Các em nhớ và gìn giữ chính xác những sự vật hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, khái niệm, những lời giải thích dài dòng.
Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều HS chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa, cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu. Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển.
Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp 11 0 0 12 dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em. Nắm được điều này, GV phải giúp HS biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức. Ngôn ngữ của học sinh tiểu học Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ tiếng nói để giao tiếp, để truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội – lịch sử hoặc kế hoạch hoá hoạt động của mình. Đặc điểm ngôn ngữ của HS tiểu học: hầu hết HS tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo.
Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau. Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ.
Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.