Mở đầu trong các nghiên cứu tại Việt Nam, luận án đã đƣa ra một cầu nối giữa các nguyên tắc đầu tƣ và việc đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tƣ của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Từ đó đi đến khái niệm hiệu quả hoạt động đầu tƣ dựa trên ba nguyên tắc đầu tƣ đặc thù của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: an toàn - sinh lời - đảm bảo khả năng thanh toán thƣờng xuyên. Các thƣớc đo đánh giá hiệu quả đầu tƣ đƣợc đƣa ra là: Tỷ suất sinh lời của hoạt động đầu tƣ đảm bảo khả năng thanh toán tổn thất lớn, rủi ro 5 đo bằng hệ số bêta của danh mục đầu tƣ đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh. Luận án đã xây dựng đƣợc lý luận và phƣơng pháp xác định chỉ tiêu vốn chủ sở hữu tối thiểu của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong cơ cấu vốn để đảm bảo cho hoạt động đầu tƣ đạt đƣợc hiệu quả theo hệ thống đánh giá trên.
Lý luận này hoàn toàn phù hợp với hệ thống Solvency I và II trên thế giới quy định về mức vốn an toàn của doanh nghiệp bảo hiểm. Về học thuật: Tác giả đã thực hiện đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tƣ của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ theo quan điểm nhìn nhận hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tƣ nhƣ hai mặt của một vấn đề. Từ đó, tác giả đề xuất phƣơng pháp vận dụng các lý thuyết quản trị tài chính, lý thuyết đầu tƣ và quản trị rủi ro hiện đại trong các thƣớc đo của các chỉ tiêu đánh giá. Mô hình quản trị rủi ro VaR, mô hình định giá tài sản vốn CAPM, các mô hình kinh tế lƣợng phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hƣởng đã đƣợc sử dụng cho việc tính toán theo các thƣớc đo đã đề ra.
Các kết quả nghiên cứu theo hƣớng này sẽ đảm bảo đƣợc những định hƣớng chặt chẽ để một doanh nghiệp bảo hiểm quản trị hoạt động của mình một cách khoa học và chuyên nghiệp. Phƣơng pháp đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tƣ này cũng có thể vận dụng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tƣ các doanh nghiệp khác. Nghiên cứu này giúp cho việc định hƣớng các doanh nghiệp bảo hiểm tại thị trƣờng Việt Nam phát triển theo các mô hình hoàn chỉnh đã hình thành tại các thị trƣờng bảo hiểm lâu đời trên thế giới với các đề xuất về:(i) Sự định hƣớng phát triển ngành bảo hiểm phi nhân thọ đóng vai trò là nhà đầu tƣ quan trọng và có tác động tích cực đến việc tạo ra cơ cấu đầu tƣ hiệu quả của nền kinh tế ;(ii) Mở rộng việc huy động vốn và đầu tƣ ra thị trƣờng khu vực, quốc tế cùng với sự phát triển các sản phẩm bảo hiểm cho các ngành với sự chú trọng vào ngành nông nghiệp. Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm của trƣờng ĐH Kinh tế quốc dân do PGS.TS Nguyễn Văn Định chủ biên năm 2009 và giáo trình Nguyên lý 6 bảo hiểm của trƣờng ĐH Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh do PGS.TS Phan Thị Cúc chủ biên đã làm rõ các vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tƣ của các doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm vai trò, các nguyên tác, các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động đầu tƣ của các doanh nghiệp bảo hiểm, các hình thức đầu tƣ của doanh nghiệp bảo hiểm, cách thức tổ chức hoạt động đầu tƣ và phƣơng pháp đánh giá hiệu quả đầu tƣ.
Hoạt động đầu tƣ của các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và của quỹ Bảo hiểm xã hội nói riêng luôn tiềm ẩn rủi ro nhƣ rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trƣờng và rủi ro tiền tệ, nên hoạt động đầu tƣ của các tổ chức này cần phải đƣợc tiến hành rất thận trọng. Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Trung Kiên năm 2005 với đề tài “ Giải pháp hoàn thiện và phát triển hoạt động đầu tư tại các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam” đã chỉ ra: ba hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm là bảo hiểm, đầu tƣ và hoạt động khác. Hoạt động đầu tƣ có sự khác nhau giữa công ty bảo hiểm nhân thọ và công ty bảo hiểm phi nhân thọ, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có tỷ lệ đầu tƣ vào chứng khoán và các tài sản tài chính trung và dài hạn cao hơn, trong khi các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chú trọng vào đầu tƣ ngắn hạn. Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Định năm 2004 với đề tài “ Hoạt động đầu tư tại các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước tại Việt Nam” đã làm rõ các vấn đề lý luận về hoạt động đầu tƣ của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nƣớc tính đến năm 2003 và đề xuất các giải pháp.
Tác giả đã xem xét kinh nghiệm chung của các nƣớc, kinh nghiệm riêng của Pháp, Malaysia nhƣ mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động đầu tƣ là bảo vệ quyền lợi của ngƣời tham gia bảo hiểm, luật hóa các quy định của nhà nƣớc, thay đổi các quy định cho phù hợp với biến động của thị trƣờng, quy định danh mục đầu tƣ, quy định giới hạn tỷ trọng tối đa/ tối thiểu cho từng loại tài sản đầu tƣ. Qua các tài liệu trên có thể thấy rằng phần lớn các công trình nghiên cứu chủ yếu tiếp cận theo hƣớng đánh giá kết quả hoạt động đầu tƣ của các 7 doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và quỹ bảo hiểm xã hội nói riêng thông qua hiệu suất sử dụng vốn, hiệu quả sinh lời mà chƣa đánh giá hiệu quả đầu tƣ của quỹ dƣới góc độ tổng hòa của ba yếu tố: an toàn, sinh lời và thanh khoản. Từ những vấn đề chƣa đƣợc giải quyết triệt để này, tác giả thấy rằng cần tiếp cận và đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tƣ của quỹ bảo hiểm xã hội dựa trên ba nguyên tắc đầu tƣ đặc thù nêu trên. Cơ sở lý luận về hiệu quả đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội 1.
Những vấn đề chung về Quỹ Bảo hiểm xã hội 1.1 Khái niệm Quỹ Bảo hiểm xã hội Theo ILO: “Bảo hiểm xã hội là thuật chia sẻ rủi ro và tài chính làm cho bảo hiểm xã hội đạt hiệu quả và trở thành một hiện thực ở tất cả các nước trên thế giới”. Theo giáo trình Kinh tế bảo hiểm của Đại học Kinh tế quốc dân: “Bao hiểm xã hội là sự đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm, bị mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, trên cơ sở san sẻ trách nhiệm đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội”.1 Mô hình Bảo hiểm xã hội Theo Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 12/07/2006 : “BHXH là một tổ chức của Nhà nước nhằm sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung do sự đóng góp của người chủ sử dụng lao động, người lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, 8 bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Khoản trợ cấp này giúp cho người lao động và gia đình họ sống ổn định, điều này còn tác động đến cả an sinh xã hội”. Theo Luật BHXH năm 2006: “Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH cho người lao động theo quy định của Pháp luật”.
Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để chi trả cho ngƣời lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp những biến cố hoặc rủi ro. Quỹ BHXH đƣợc hình thành từ các nguồn: ngƣời sử dụng lao động đóng, ngƣời lao động đóng, tiền sinh lời từ hoạt động đầu tƣ quỹ, hỗ trợ của nhà nƣớc và các nguồn thu hợp pháp khác. Ngân sách Nhà nƣớc và quỹ BHXH có cùng bản chất, chức năng và có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tạo lập và sử dụng. Hoạt động của ngân sách nhà nƣớc (NSNN) và quỹ BHXH đều không nhằm mục đích kiếm lời.
Việc thu - chi ngân sách và quỹ BHXH đều đƣợc quy định bằng pháp luật và cơ chế quản lý phải tuân theo nguyên tắc cân đối nguồn thu và chi … 9 Hình 1. Sơ đồ dòng tài chính của Quỹ BHXH Tuy nhiên, giữa NSNN và quỹ BHXH có những điểm khác nhau cơ bản. NSNN ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc và thực hiện chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc. Bộ máy Nhà nƣớc càng lớn, chức năng và nhiệm vụ càng mở rộng thì thu - chi ngân sách càng lớn.
Quan hệ phân phối của nhà nƣớc mang tính pháp lý rất cao và dựa vào quyền lực chính trị, kinh tế của Nhà nƣớc. Quan hệ phân phối này chủ yếu là phân phối lại, không mang tính chất hoàn trả và phản ánh lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia, nó chi phối các quan hệ, các lợi ích bộ phận và cá nhân 10 nhằm đảm bảo cho nền kinh tế - xã hội đƣợc phát triển ổn định. Trong khi đó, quỹ BHXH ra đời, tồn tại và phát triển với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, các quan hệ thuê mƣớn nhân công. Mặc dù thu - chi BHXH đều đƣợc Nhà nƣớc quy định bằng các văn bản pháp luật, nhƣng chủ yếu dựa vào quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích giữa các bên tham gia theo nguyên tắc có tham gia thì mới đƣợc hƣởng quyền lợi BHXH.
Quan hệ phân phối của quỹ BHXH có tính chất pháp lý thấp hơn NSNN và mối quan hệ này trƣớc hết phản ánh lợi ích của các bên tham gia BHXH, sau đó mới đến lợi ích xã hội. Nhƣ vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.