CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về nguồn nhân lực 1. Khái niệm về nhân lực và nguồn nhân lực. a, Khái niệm nhân lực.
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực, trí lực và gồm cả tinh thần .[11] Thể lực :là sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người phụ thuộc vào giới tính, thời gian công tác, độ tuổi…. Trí lực: chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con người. Trong sản xuất kinh doanh chuyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con người là không bao giờ thiếu, đã được khai thác triệt để.
Sự khai thác tiềm năng trí lực của con người còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của con người. Đạo đức: là một phạm trù thể hiện tư tưởng, tình cảm, lối sống, thái độ và phong cách đối xử với đồng nghiệp trong tổ chức, với mọi người trong xã hội bao hàm cả quan niệm về nhân dân và về đất nước mình. b, Khái niệm nguồn nhân lực. Thuật ngữ nguồn nhân lực xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động.
Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên với các đặc trưng coi 11 nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người. Khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất.
Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số quan niệm như sau: [9] Nguồn nhân lực: Là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương và nó khác với các nguồn lực khác ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Nguồn nhân lực thể hiện toàn bộ những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người từ giới hạn dưới của độ tuổi lao động trở lên và có khả năng lao động.
- Biểu hiện khác nhau nhưng nguồn nhân lực một quốc gia phản ánh các đặc điểm quan trọng nhất: + Nguồn nhân lực là nguồn lực con người 12 + Nguồn nhân lực là bộ phận của dân số, gắn với cung lao động + Nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động của một xã hội. Nguồn nhân lực được hiểu ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi để chỉ vai trò và vị trí con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội.[9] Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội. Với cách nhìn này, NNL được xem xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con người đối với sự phát triển của xã hội.
Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động trong tổ chức đó. Bao gồm tất cả các cá nhân tham gia bất kỳ hoạt động nào của tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu, về vĩ mô, NNL quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội, Về vi mô NNL quyết định sự phát triển, thành công hay thất bại của một tổ chức. NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức.Từ quan niệm chung đó có thể thấy, NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức. Phân loại nhân lực trong tổ chức.
Tùy theo từng quan điểm và khía cạnh nghiên cứu khác nhau, nhân lực được phân loại theo: - Năng lực và kỹ năng: Phân loại nhân viên theo năng lực giúp doanh nghiệp 13 định hướng đào tạo, phát triển kỹ năng và xác định nhân sự đúng vị trí để có cơ hội thăng tiến cao. Tuy nhiên, đánh giá năng lực của nhân viên cần phải được thực hiện một cách công bằng và chính xác để tránh sự không hài lòng và tranh cãi trong công việc.[10] - Phân loại theo thời gian làm việc: Việc phân loại nhân viên theo thời gian làm việc có thể giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về tình trạng nhân viên của công ty và đưa ra các quyết định phù hợp. Các nhân viên làm việc lâu năm thường có sự thấu hiểu sâu sắc về công việc và quy trình, giúp tăng năng suất và hiệu quả trong công việc. - Phân loại theo mức độ quan trọng: Phân loại nhân viên theo mức độ quan trọng bao gồm 5 loại: bình thường, tài năng trẻ, quản lý/chuyên gia, cán bộ nguồn và chủ chốt để đãi ngộ.
Đây là cách hiệu quả giúp lãnh đạo doanh nghiệp phân bổ tài nguyên và đưa ra các quyết định về đào tạo, phát triển và đãi ngộ nhân viên sao cho phù hợp và hiệu quả nhất. - Nhân viên thâm niên lâu năm thường có nhu cầu và mong muốn khác với những nhân viên mới. Việc có kế hoạch phát triển riêng, chính sách, chế độ đãi ngộ riêng giúp tăng cường sự hài lòng của nhân viên với công ty và giúp giữ chân họ trong thời gian dài. Vai trò của Nhân lực, Nguồn Nhân lực trong doanh nghiệp.
Vai trò của Nhân Lực: - Tạo ra lợi nhuận: Nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp là nhân tố tạo nên sự thành công và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nguồn nhân lực tạo nên sự sáng tạo cho doanh nghiệp hay tổ chức, do chỉ có con người mới có thể tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa và kiểm tra hiệu quả các quá trình sản xuất và 14 kinh doanh trong doanh nghiệp. - Mang tính chiến lược cao: Khi xã hội ngày càng chuyển sang giai đoạn nền kinh tế tri thức thì các nhân tố về vốn, công nghệ cùng với nguyên vật liệu đang có vai trò giảm dần và nhân tố con người đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong doanh nghiệp. Bởi vì con người có tính năng động và sáng tạo, do đó hoạt động trí óc con người sẽ giúp doanh nghiệp có thể sở hữu những giá trị hữu ích trong quá trình phát triển.
- Là nguồn lực vô hạn: Nếu doanh nghiệp có thể khai thác nguồn lực này một cách hiệu quả thì lợi ích đem lại sẽ cực kỳ to lớn. Con người luôn phát triển và sinh sôi. Trí óc sáng tạo vô hạn, xã hội ngày càng phát triển, ngày một đỏi mới và không ngừng tiến lên, doanh nghiệp sẽ càng phát triển và yếu tố nhân lực là vô hạn. [4]Vai trò của Nguồn Nhân Lực: - Là yếu tố quan trọng nhất của tổ chức: Nguồn nhân lực là yếu tố chủ đạo ảnh hưởng đến sự phát triển cùa một doanh nghiệp.
Những con người làm việc ở nhiều vị trí khác nhau trong một tổ chức. Chính vì vậy, họ là người chịu trách nhiệm trực tiếp đối với những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, sự quan trọng của nguồn nhân lực luôn được công tác quản lý nhân sự đặt lên hàng đầu. - Là yếu tố mang tính chiến lược: Ngày nay, khi nền kinh tế đang dần chuyển sang kinh tế tri thức, vai trò của nguồn nhân lực ngày càng được đề cao hơn so với các nguồn lực về vốn, nguyên vật liệu,.
Nguồn nhân lực đại diện cho những con người trong tổ chức, Chính vì thế, nguồn nhân lực thể hiện rõ được đặc tính năng động và sáng tạo từ người lao 15 động, các hoạt động về trí óc của người lao động sẽ giúp Doanh nghiệp đạt được các bứt phá trong hoạt động kinh doanh. - Là nguồn lực vô tận của doanh nghiệp: Nguồn nhân lực có thể tạo ra được những giá trị thực cho Doanh nghiệp như tạo thêm của cải vật chất, những sản phẩm mới và nuôi dưỡng văn hóa Doanh nghiệp. Chính vì thế, Doanh nghiệp nên khai thác hiệu quả của nguồn nhân lực để mang lại nhiều lợi ích to lớn hơn. Xã hội ngày càng đổi mới và không ngừng tiến lên, đồng nghĩa với việc con người sẽ ngày càng phát triển và nguồn nhân lực sẽ trở nên vô tận.
- Là động lực cho sự phát triển: Nếu như nhân lực không sáng tạo ra những tài liệu lao động hiện đại, hướng dẫn sử dụng, cách khai thác và đưa những tư liệu đó vào hoạt động lao động thì những nguồn lực khác cũng chỉ là những vật chất vô tri vô giác không được biết đến. Vì vậy chúng ta phải biết phát huy, khai thác, sử dụng nguồn lực thông qua các hoạt động ý thức của con người.[5] - Nhân tố tiên quyết dẫn đến sự thành, bại của doanh nghiệp: Nguồn nhân lực còn ảnh hưởng đến thành bại của tổ chức đó. Một tổ chức muốn thành công phải có sự đồng lòng, gắn kết cùng nhau thực hiện một mục tiêu chung thì Doanh nghiệp mới thành công và phát triển được. - Vai trò cốt lõi cho mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức: Con người có khả năng phát minh và sáng tạo ra các loại hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ.