CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TÍN CHẤP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG CHO VAY TÍN CHẤP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về tín dụng Ngân hàng: Theo Bùi Diệu Anh (2009), Tín dụng Ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (Ngân Hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khái niệm về cho vay: Theo Nguyễn Đăng Dờn (2007), Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Khái niệm về vay tín chấp: Theo Nguyễn Minh Kiều (2012), Vay tín chấp là hình thức cho vay không cần tài sản đảm bảo, dựa hoàn toàn vào uy tín của cá nhân và công ty đang công tác để phục vụ cho các mục đích cá nhân, có thể là một khoản chi phí cho đám cưới, du lịch hoặc mua hàng tiêu dùng và các khoản cho vay rất thuận tiện để phục vụ cho tất cả các nhu cầu của bạn. Một khoản vay tín chấp thường dao động từ 10 triệu đồng đến 500 triệu đồng và thời hạn cho vay trả góp linh hoạt từ 12 tháng đến 60 tháng. Phân loại: Theo Nguyễn Khánh Phương (2019), Các khoản vay được căn cứ phân loại như sau: a) Căn cứ vào thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: là những khoản vay có thời hạn đến 1 năm, thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân 5 Cho vay trung hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm; được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. Cho vay dài hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm.
Loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn. b) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn Cho vay sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại cấp phát tín dụng cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa. Cho vay tiêu dùng: là hình thức cấp phát tín dụng cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Cho vay học tập: là hình thức cấp phát tín dụng để phục vụ việc học tập của sinh viên.
Ngoài ra, căn cứ vào mục đích sử dụng vốn còn có thể có nhiều hình thức tín dụng khác. c) Căn cứ vào đối tượng trả nợ Cho vay trực tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay cũng là người trực tiếp trả nợ. Cho vay gián tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay và người trả nợ là hai đối tượng khác nhau. d) Căn cứ vào tính chất của khoản vay Cho vay có TSBĐ đảm bảo: các khoản vốn tín dụng phát ra đều có hàng hóa, vật tư tài sản tương đương đảm bảo.
Cho vay không có TSBĐ đảm bảo: các khoản tín dụng phát ra không cần có hàng hóa, vật tư, tài sản đảm bảo mà chỉ dựa vào uy tín, sự tín nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân để cấp vốn tín dụng. Đặc điểm vay tín chấp: Theo Võ Huy Long (2019) đặc điểm cho vay tín chấp: 6 Vay tiền tín chấp không cần thế chấp tài sản đảm bảo (tổ chức cho vay không yêu cầu bất kỳ tài sản thế chấp nào), để có được một khoản vay khác bạn cần phải có tài sản để thế chấp cho tổ chức cho vay, ví dụ: quyền sử dụng đất, sổ tiết kiệm hoặc xe hơi… Thủ tục hồ sơ vay tiền tín chấp đơn giản: Khách hàng cung cấp giấy tờ cá nhân ít nhất, hoàn toàn đơn giản hơn nhiều so với một khoản vay thế chấp. Không cần quan tâm đến chi tiết mục đích vay: Bạn không cần phải tiết lộ chi tiết việc sử dụng số tiền vay của bạn, miễn đó là đều là mục đích vay tiêu dùng, các tổ chức tín dụng quan tâm đến khả năng thanh toán của bạn nhiều hơn. Số tiền vay cao: Bạn dễ dàng nhận được một khoản vay nhanh với số tiền vay tới 10 triệu đồng cho những gói vay ngắn hạn và lên tới 500 triệu đồng cho những gói dài hạn.
Các yếu tố ảnh hưởng đến khoản vay tín chấp. Có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến hiệu quả của hoạt động cho vay tiêu dùng, bao gồm các yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Theo nghiên cứu của Kiều Mỹ Linh (2018), các yếu tố khách quan và chủ quan có thể kể ra như sau: Nhân tố pháp luật: Trong việc cho vay tiêu dùng thì yếu tố pháp luật là một trong những yếu tố rất quan trọng đến việc cho vay của các ngân hàng. Khi chưa có khung pháp luật của Nhà nước, hướng dẫn cho vay tiêu dùng thì các ngân hàng không thể phát hành thẻ tín dụng cho vay được bởi khi đó quyền lợi giữa các bên chưa rõ ràng, khi xảy ra tranh chấp sẽ không thể giải quyết được.
Nhân tố môi trường, văn hóa, xã hội: Đây cũng là một trong những nhân tố tác động tới hoạt động cho vay tiêu dùng. Hành vi của người dân thực chất phản ánh sự tác động của môi trường, văn hóa, xã hội. Nếu trong xã hội mà mọi người dân đều cần cù lao động, chăm chỉ làm việc và tích lũy thì nhu cầu vay tiêu dùng của xã hội và người dân sẽ không cao. Nhân tố Ngân hàng bao gồm: định hướng, yếu tố con người và yếu tố công nghệ.
Định hướng phát triển của ngân hàng như thế nào sẽ kéo theo hoạt động cho vay tiêu dùng theo như vậy. Nếu ngân hàng xác định thị trường cho vay tiêu dùng là mục tiêu thì sẽ huy động nhân lực, mở rộng mạng lưới và tập trung phát triển thị trường này. 7 Yếu tố con người tức là nói đến trình độ chuyên môn và khả năng của các cán bộ ngân hàng. Khi cách làm việc chuyên nghiệp, thái độ phục vụ chu đáo, ân cần thì lượng khách hàng sẽ theo đó mà tăng cao và ngược lại.
Công nghệ ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp tới cách thức giao dịch, lưu giữ và bảo mật thông tin khách hàng giúp việc giao dịch được thực hiện một cách nhanh chóng, dễ dàng, đơn giản. Chính điều này cũng góp phần tăng cường sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng và gia tăng lượng khách hàng trung thành. Yếu tố Khách hàng: Các yếu tố thuộc về bản thân khách hàng có thể kể đến đó là thu nhập, văn hóa, trình độ, đạo đức,… sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động cho vay tín dụng. Thu nhập của khách hàng sẽ quyết định đến nhu cầu vay tiêu dùng của họ bởi nó liên quan chặt chẽ đến việc trả nợ hàng tháng.
Yếu tố đạo đức, nhân cách của khách hàng sẽ ảnh hưởng đến hành vi của khách hàng đối với khoản vay, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng. Các chỉ tiêu đánh giá khoản vay tín chấp. Theo Ngân hàng Nhà Nước (2005), Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN: Tỷ lệ Dư nợ/Tổng nguồn vốn (%) Dựa vào chỉ tiêu này, so sánh qua các năm để đánh giá mức độ tập trung vốn tín dụng của NH. Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của NH và khả năng sử dụng vốn càng cao, ngược lại càng thấp thì ngân hàng đang bị trì trệ vốn, sử dụng vốn bị lãng phí, có thể gây ảnh hưởng đến doanh thu cũng như tỷ lệ thu lãi của ngân hàng.
Tỷ lệ Dư nợ/Vốn huy động (%) Chỉ tiêu này phản ánh NH cho vay được bao nhiêu so với nguồn vốn huy động, nó còn nói lên hiệu quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng, thể hiện ngân hàng đã chủ động trong việc tích cực tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy đông hay chưa. Chỉ tiêu này lớn thể hiện khả năng tranh thủ vốn huy động, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì ngân hàng chưa thực hiện tốt việc huy động vốn, vốn huy động 8 tham gia vào cho vay ít, khả năng huy động vốn của NH chưa tốt, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả toàn bộ nguồn vốn huy động, gây lãng phí. Vòng quay vốn Tín dụng (vòng) Doanh số thu nợ Vòng quay vốn Tín dụng (vòng) = ------------------------ Dư nợ bình quân Trong đó: (Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ) Dư nợ bình quân trong kỳ = ------------------------------------------ 2 Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì được coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng 1. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU: Để hoàn thành được bài báo cáo tốt nghiệp về đề tài nâng cao hoạt động cho vay tín chấp, ngoài nêu được những vấn đề cần thiết và đưa ra những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao kết quả hoạt động là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, có thể kể đến một vài tác phẩm tiêu biểu như: Võ Huy Long (2019), Hoàn Thiện Hoạt Động Cho Vay Tiêu Dùng Bảo Đảm Không Bằng Tài Sản Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam - Chi Nhánh Tỉnh Kon Tum, Đã cho ta thấy ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam đã có những bước phát triển về hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM, phân tích thực trạng, nhận định những thành công, hạn chế cùng nguyên nhân của những hạn chế đó trong hoạt động cho vay tiêu dùng đảm bảo không bằng tài sản tại Agribank Chi nhánh tỉnh Kon Tum, với ưu điểm từ hoạt động cho vay tiêu dùng tín chấp đang được các NHTM chú 9 trọng phát triển nhằm mang lại cho các NHTM nguồn lợi nhuận không nhỏ, giúp NHTM nâng cao được chất lượng sản phẩm dịch vụ, đa dạng hóa danh mục đầu tư, nâng cao lợi nhuận.