đặt vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn ƣu đãi khi Việt Nam trở thành nƣớc có thu nhập trung bình. Tác giả đã đƣa ra các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng ODA và vốn ƣu đãi, các nhân tố ảnh hƣởng. Trên cơ sở phân tích thực trạng của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng ODA và vốn ƣu đãi trong điều kiện Việt Nam trở thành nƣớc có thu nhập trung bình thấp [59]. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA cũng đƣợc các tác giả nghiên cứu theo từng địa phƣơng, ngành và lĩnh vực đầu tƣ.
Hà Thị Thu (2014) nghiên cứu thu hút và sử dụng vốn ODA vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam tại vùng Duyên hải Miền Trung [50]. Tác giả khẳng định ODA tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông thôn trong thời kỳ mới. Nguyễn Thị Lan Anh (2015) nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn ODA tại khu vực Tây Bắc, Việt Nam [1]. Tác giả tập trung đánh giá đóng góp của ODA tới tăng 9 trƣởng kinh tế và phúc lợi xã hội, từ đó chỉ rõ các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng ODA tại khu vực vùng cao - miền núi nói chung, khu vực Tây Bắc nói riêng gồm: năng lực đội ngũ cán bộ tham gia quản lý ODA; sự đồng bộ của cơ chế chính sách; điều kiện tự nhiên, trình độ văn hóa, tập quán canh tác.
Nguyễn Việt Cƣờng (2016) nghiên cứu về thu hút vốn ODA nhằm thực hiện mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 [16]. Tác giả đƣa ra các nhóm giải pháp chủ yếu tăng cƣờng thu hút ODA gắn với từng nhân tố cụ thể (1) tăng cƣờng, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà tài trợ và bên tiếp nhận; (2) hoàn thiện thể chế, pháp luật chính sách, chiến lƣợc ODA; (3) tăng cƣờng hiệu quả sử dụng vốn ODA. Nguyễn Đình Nam (2017) trên cơ sở nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng vốn ODA vào phát triển đƣờng sắt đô thị ở Việt Nam, đã đề xuất mô hình xây dựng các nhân tố tác động đến hiệu quả triển khai dự án sử dụng vốn ODA gồm sáu nhân tố là (1) năng lực tài chính, (2) năng lực tổ chức;(3) năng lực điều hành; (4) tầm nhìn của lãnh đạo; (5) khả năng thích nghi và (6) quản lý rủi ro [31]. Một số nghiên cứu tập trung vào hiệu quả quản lý vốn ODA.
Tôn Thanh Tâm (2005) đã tập trung phân tích thực trạng chế tài thanh tra, kiểm tra, giám sát tại các chƣơng trình, dự án dựa trên cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nƣớc về ODA. Từ đó tác giả đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về ODA cho các chƣơng trình dự án [44]. Đây đƣợc xem là công trình nghiên cứu khá đầy đủ, toàn diện về hiệu quả quản lý ODA tại Việt Nam. Nghiên cứu của Lê Xuân Bá và cộng sự (2008) cho thấy, thực tế phân cấp quản lý ODA ở Việt Nam hạn chế nhƣ năng lực quản lý và chuyên môn yếu kém đã làm cho các dự án ODA ở địa phƣơng kém hiệu quả, việc chuyển giao trách nhiệm trong khi không đủ nguồn lực cần thiết đã làm cho việc phân phối công bằng dịch vụ hoặc cung cấp dịch vụ khó khăn hơn, chƣa gắn kết giữa các cấp quản lý đã làm cho sự phối hợp thực hiện chính sách trở nên phức tạp và không đảm bảo tính thông suốt, khung pháp lý chƣa đồng bộ, nội dung phân cấp quản lý ODA thể hiện trong rất nhiều văn bản khác nhau, việc hài hòa chính sách, thủ tục và quy trình giữa Việt Nam và nhà tài trợ cũng còn chậm, có sự cách biệt còn lớn [2].
Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (2012), 10 cũng đã tập trung nghiên cứu, xây dựng cơ chế quản lý việc giải ngân vốn đối ứng cấp phát từ NSNN cho các dự án ODA nhằm đáp ứng với thực tiễn vốn ODA tại Việt Nam giai đoạn 2012- 2018 [3]. Nghiên cứu đã đi sâu phân tích, luận giải trên các nội dung về thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA nhằm phát triển KTXH của quốc gia cũng như từng địa phương, từng ngành kinh tế, lĩnh vực. Các nghiên cứu chủ yếu đề cập đến hiệu quả sử dụng vốn đối với phát triển KTXH tổng thể của quốc gia, địa phương hoặc lĩnh vực được đầu tư ODA thông qua phân tích tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng GDP bình quân đầu người, đảm bảo an sinh xã hội và giảm đói nghèo. Chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích hiệu quả KTXH của dự án ODA, qua đó tác động lên phát triển KTXH thông qua các tiêu chí như giá trị gia tăng, thặng dư xã hội, tạo công ăn việc làm và tăng chất lượng cuộc sống của người dân khu vực ảnh hưởng của dự án ODA.
- Cho vay lại vốn ODA tại các TCTD Lê Xuân Bá và cộng sự (2008) cũng đã đề cập đến cơ chế quản lý tài chính đối với các dự án ODA của Việt Nam, các tác giả cho rằng bên cạnh cơ chế cấp phát từ NSNN, cho vay lại ODA sẽ đảm bảo tính minh bạch của nguồn vốn, tăng trách nhiệm của địa phƣơng vay vốn với cơ chế có hoàn trả, tăng cƣờng hiệu quả của dự án ODA và khả năng thu hồi vốn ODA của nhà nƣớc để trả nợ nƣớc ngoài [2]. Nguyễn Xuân Thảo (2017) chỉ ra thực trạng công tác quản lý và sử dụng ODA của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015, các dự án ODA của địa phƣơng chủ yếu sử dụng vốn cấp phát nên hiệu quả không cao, tỷ lệ thất thoát lớn [48]. Trong bối cảnh Việt Nam là nƣớc có thu nhập trung bình thấp, vốn ODA bị thu hẹp, đòi hỏi cấp thiết về việc nâng cao hiệu quả sử dụng ODA, Chính phủ cần đẩy mạnh cơ chế cho vay lại vốn ODA thay vì cấp phát. Đặng Vũ Hùng (2013) trên cơ sở nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản trị rủi ro cho vay lại ODA tại VDB đã đề cập khá sâu đến kênh tín dụng vốn ODA thông qua VDB.
Tác giả cho rằng cho vay lại ODA là kênh cung ứng vốn hiệu quả cho các chƣơng trình, dự án ODA, thực hiện cơ chế cho vay lại và thu hồi nợ để tận dụng và sử dụng có hiệu quả vốn vay ODA. Tuy nhiên, trên 11 giác độ nghiên cứu quản lý rủi ro cho vay lại, tác giả chƣa đề cập đến các nguyên tắc quản lý tài chính đối với dự án ODA, hiệu quả cho vay lại ODA, đặc biệt là hiệu quả đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội của Nhà nƣớc [23]. Lê Ngọc Lâm (2015) khi nghiên cứu vai trò của BIDV trong tài trợ vốn cho các dự án ODA cũng đã nhấn mạnh đến hiệu quả sử dụng ODA thông qua kênh cho vay lại vốn ODA của các NHTM nói chung và BIDV nói riêng. Tác giả cho rằng cung ứng vốn ODA cho các dự án thông qua các TCTD sẽ đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích, tăng trách nhiệm của chủ đầu tƣ, tăng hiệu quả dự án ODA, hạn chế rủi ro cũng nhƣ khả năng thu hồi nợ vay để đảm bảo nguồn trả nợ nƣớc ngoài [32].
Các công trình tập trung luận giải hiệu quả kênh cung ứng vốn ODA cho các chương trình, dự án để tăng cường cơ chế cho vay lại trong điều kiện thu hút ODA đang ngày càng thu hẹp. Các nghiên cứu trên chỉ mới đề cập ở mức khái quát phương thức tài trợ vốn ODA cho dự án, thông qua ủy thác cho TCTD thực hiện cho vay lại nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn, tránh lãng phí, tham nhũng vốn. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về hiệu quả cho vay lại vốn ODA nhằm đảm bảo hiệu quả cho cả TCTD và phát triển KTXH. - Các nghiên cứu tại VDB Các công trình nghiên cứu tại VDB tập trung vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý rủi ro của cơ quan này.
Trần Cảnh Toàn (2013) đã đƣa ra những dấu hiệu rủi ro trong giải ngân vốn ODA tại VDB, theo tác giả dấu hiệu tăng trƣởng về số dự án và quy mô vốn ODA cho vay lại có tính hai mặt, một mặt thể hiện tính tích cực trong hoạt động của VDB, nhu cầu đầu tƣ của nền kinh tế nhƣng mặt khác đây cũng là dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro, có thể dẫn dến tăng nợ quá hạn [54]. Đặng Vũ Hùng (2013) đã phân tích thực trạng rủi ro và quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODA của VDB giai đoạn 2006-2012, từ đó đề xuất tám nhóm giải pháp nhằm tăng cƣờng năng lực quản lý rủi ro đối với cho vay lại ODA. Tác giả cho rằng, hoạt động cho vay lại chủ yếu theo phƣơng thức VDB không chịu rủi ro tín dụng, VDB chủ yếu thực hiện việc “ghi chi, thu” thông qua tài khoản đặc biệt mà hầu nhƣ không phải thẩm định dự án và kiểm soát tình hình sử dụng vốn vay. Vì vậy, nhiều dự án sử dụng vốn ODA cho vay lại vẫn chƣa hiệu quả [23].
Nguyễn 12 Cảnh Hiệp (2013) đã chỉ ra các đặc trƣng cơ bản của tín dụng ĐTPT Nhà nƣớc, đƣa ra các chỉ tiêu đánh giá RRTD ĐTPT, quy trình quản lý RRTD trong cho vay ĐTPT của VDB. Trên cơ sở đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu tại VDB từ năm 2006 đến 2012, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp để QLRR tín dụng ĐTPT của VDB đến năm 2020 [19]. Tuy nhiên, đối tƣợng nghiên cứu của công trình này là hoạt động cho vay ĐTPT bằng nguồn vốn vay trong nƣớc mà không bao gồm vốn ODA cho vay lại. Trƣơng Thị Hoài Linh (2012) tập trung nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của VDB, tác giả nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2006 - 2010, đánh giá trên hai phƣơng diện là hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của VDB [29].