CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG GIAO KỊCH KÝ QUỸ TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm Công ty chứng khoán. Đầu tư chứng khoán là việc NĐT sử dụng nguồn vốn đầu tư nhàn rỗi nhỏ lẻ của mình cho doanh nghiệp. NĐT tham gia đầu tư chứng khoán giúp giải quyết nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, bởi lẽ nhà nước không phải lúc nào cũng có khả năng hỗ trợ những doanh nghiệp vay vốn phát triển bằng ngân sách.
Chứng khoán với sứ mệnh là trung gian để thực hiện những nhiệm vụ cao cả này. Vì vậy, LCK 2019 hay Thông tư số 121/2020 quy định về Hoạt động tại các công ty chứng khoán chỉ mang tính chỉ dẫn. Theo phân tích trên có thể hiểu CTCK là một tổ chức hoạt động có tư cách pháp nhân và phải có giấy phép hoạt động kinh doanh. UBCKNN là đơn vị cấp Giấy phép kinh doanh của CTCK.
Hoạt động kinh doanh chứng khoán có thể bao hàm một số hoặc tất cả các hoạt động sau: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, và một số hoạt động khác. CTCK được hoạt động theo các quy định của Luật chứng khoán và một số quy định khác có liên quan của pháp luật. CTCK có thể hoạt động theo hình thức công ty cổ phần hay công ty TNHH. Công ty chứng khoán là tổ chức được UBCKNN “cấp phép thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh” sau đây: - Môi giới chứng khoán.
- Tự doanh chứng khoán. - Bảo lãnh phát hành chứng khoán. - Tư vấn đầu tư chứng khoán. - Một số các loại nghiệp vụ khác.
LCK 2019 chỉ ghi 4 loại hình chứng khoán, còn “một số các loại dịch vụ khác” LCK không nhắc đến. “Một số các loại hình dịch vụ khác” này được quy định trong Nghị định số 155 quy định chi tiết hơn về thi hành một số điều của LCK. Đặc điểm và vai trò của công ty chứng khoán. CTCK có thể được coi là một tổ chức tài chính (TCTC) trung gian.
TCTC chỉ những tổ chức có chức năng dẫn nguồn vốn từ những người có vốn tới những người cần. Không chỉ được thực hiện một cách trực tiếp, chức năng dẫn nguồn vốn còn có thể thông qua người thứ 3 là các “tổ chức tài chính”. Các CTCK có một đặc điểm, mục tiêu quan trọng: họ là cầu nối trung gian giữa những người cần vốn và những người có vốn. CTCK là trung gian chính, và cũng là cầu nối liên kết các các NĐT với nhau.
Với đặc điểm là trung gian, các CTCK cung cấp khá đầy đủ và đa dạng các dịch vụ tài chính bao gồm: dịch vụ môi giới, tư vấn danh mục đầu tư hay dịch vụ ngân hàng đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện giao dịch mua/bán cổ phiếu, trái phiếu cũng như các công cụ khác của thị trường tiền tệ. Lĩnh vực/ngành nghề kinh doanh: CTCK có thể thực hiện một lúc nhiều nghiệp vụ kinh doanh CK nếu đủ điều kiện và được UBCK cấp giấy phép đối với những hoạt động đó. HĐKD chính, thường xuyên, mang tính nghề nghiệp là những hoạt động kinh doanh chứng khoán, gồm: một, một số hay toàn bộ các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán căn cứ theo Điều 60 của Luật chứng khoán “môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán; bên cạnh những nghiệp vụ KDCK thì CTCK còn cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác. Để được cấp phép hoạt động, CTCK cần phải thỏa mãn những yêu cầu sau: (1) CTCK cần có phương án kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển trong ngành chứng khoán; (2) CTCK cần trang bị đầy đủ các trang thiết bị cần thiết trong hoạt động kinh doanh chứng khoán; (3) CTCK cần đáp ứng mức vốn pháp lý tối thiểu theo quy định của ngành kinh doanh; (4) BLĐ của CTCK và các nhân viên kinh doanh cũng cần đáp ứng đầy đủ điều kiện để UBCK cấp chứng chỉ hành nghề.
CTCK là một tổ chức kinh doanh được hoạt động có kiểm soát. Những hoạt động kinh doanh của CTCK đều theo sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ từ các cơ quan có thẩm quyền và các Hiệp hội chứng khoán sở tại. 10 CTCK hiện nay thường tập trung vào các hoạt động tự doanh và môi giới. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù, hai hoạt động này thường xuyên phát sinh xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện.
Vì vậy, cơ quan Nhà nước đã quy định rõ các CTCK phải triển khai các chức năng này với bộ phận riêng biệt. Cụ thể, tự doanh là hoạt động của CTCK liên quan đến việc tự thực hiện các giao dịch mua/bán chứng khoán. Hoạt động này của CTCK vẫn được kiểm soát và theo dõi bởi các cơ chế và quy định của SGDCK hoặc thị trường OTC. Đối với doanh nghiệp.
IPO (Initial Public Offering) là việc doanh nghiệp phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Doanh nghiệp thực hiện IPO là một cách để các doanh nghiệp huy động vốn từ công chúng, và hoạt động này được thực hiện thông qua trung gian là các CTCK. Trong các thương vụ phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp, CTCK có vai trò tư vấn, bảo lãnh phát hành với mục tiêu đảm bảo các giao dịch mua/bán diễn ra thuận lợi. Đối với cá nhân là NĐT Để có thể bắt đầu giao dịch trên TTCK, NĐT cần mở TKGDCK.
Những tài khoản GDCK này sẽ được mở tại các CTCK. Thông qua những như hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư, các CTCK đóng vai trò là cầu nối giao dịch giữa các NĐT với nhau. Để có thể GDCK trên TTCK, bắt buộc các NĐT chứng khoán phải có TKGDCK được mở tại các CTCK. Nếu KH là người mới tham gia TTCK, các CTCK cũng là kênh chính cung cấp các thông tin hữu ích thông qua các báo cáo phân tích cũng như nhận định thị trường.
CTCK cũng đóng vai trò cung cấp các bài đánh giá, các bản báo cáo tài chính về “sức khỏe” của doanh nghiệp. Đây là cơ sở để các NĐT có một cái nhìn tổng quan về doanh nghiệp và thị trường, từ đó đưa ra quyết định đầu tư hợp lí. Đối với thị trường chứng khoán CTCK là đơn vị trung gian và cũng là đơn vị, là thành tố quan trọng trong TTCK. 11 Ở thị trường sơ cấp, các CTCK có vai trò là hỗ trợ các doanh nghiệp IPO chính là DN phát hành và giúp các DN định giá cổ phiếu khi chào bán lần đầu.
Ở thị trường thứ cấp, các CTCK có vai trò điều tiết TTCK thông qua các HĐ tự doanh và tăng thu nhập cho công ty mình, trong đó bao gồm: tạo giá trị thanh khoản và điều tiết nền giá cổ phiếu. Đối với cơ quan quản lý Trên TTCK, các CTCK cũng có vai trò cung cấp thông tin như thông tin về cổ phiếu, giao dịch, cổ tức, cũng như dữ liệu về ngành và doanh nghiệp. Với những thông tin các CTCK cung cấp, cơ quan quản lý thị trường có thể tham khảo nhằm kịp thời đưa ra các biện pháp điều chỉnh thị trường phù hợp. Không những thế, các CTCK còn phối hợp chặt chẽ trong công tác kiểm soát thông tin nhà đầu tư, qua đó giúp cơ quan quản lý ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật trên TTCK.
CTCK được xem là một chế tài chính quan trọng trên TTCK. Các cơ quan quản lý phải có chức năng quan sát TTCK và đối chiếu những quy định hiện hành của Luật Chứng khoán và các văn bản quy phạm liên quan để có sự điều chỉnh thị trường hợp lý. Trong quyết định của cơ quan quản lý có một phần quan trọng là nhờ vào thông tin về TTCK do các CTCK cung cấp. CTCK sẽ phải kết hợp với cơ quan quản lý để hạn chế hoặc ngăn các hành vi sai trái trên TTCK do những cá nhân hay tổ chức có thể gây ra.
Nghiệp vụ cơ bản của Công ty chứng khoán. Nghiệp vụ môi giới. Môi giới chứng khoán là hoạt động mà CTCK là trung gian đại diện mua, hoặc đại diện bán CK cho KH để hưởng phí. Theo đó có thể hiểu, CTCK là bên đại diện cho KH giao dịch theo cơ chế giao dịch tại SGDCK hay thị trường OTC.
KH phải chịu trách nhiệm với kết quả giao dịch của mình. Nghiệp vụ tự doanh. Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua, bán chứng khoán cho chính Công ty đó. 12 Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc là thị trường OTC.
Tại những thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá, hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này, CTCK đóng vai trò “nhà tạo lập thị trường”, nắm giữ một lượng chứng khoán nhất định của các loại chứng khoán để thực hiện mua bán chứng khoán trên TTCK để hưởng chênh lệch giá. Giao dịch tự doanh tại các CTCK được thực hiện theo hai phương thức: giao dịch trực tiếp và giao dịch gián tiếp. - Giao dịch trực tiếp: là giao dịch song phương giữa hai CTCK hay giữa CTCK với một khách hàng khác thông qua thương lượng.
- Giao dịch gián tiếp: CTCK đặt các lệnh mua/bán chứng khoán trên SGDCK, có thể với KH chưa được xác định trước. Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành. Để thực hiện được các đợt chào bán CK ra công chúng, tổ chức phát hành cần phải liên hệ với các CTCK để được tư vấn và bảo lãnh đợt phát hành CK ra công chúng. Công việc trên được gọi là nghiệp vụ bảo lãnh của các CTCK, và cũng là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu cao trong tổng doanh thu của CTCK.
Như vậy có thể hiểu nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo lãnh phát hành (gọi là tổ chức bảo lãnh) giúp các tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục, hồ sơ trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức phân phối chứng khoán để giúp bình ổn giá chứng khoán phát hành trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên TTCK, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ có ở công ty chứng khoán mà còn có ở các định chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư, nhưng thường việc CTCK nhận bảo lãnh phát hành là kiêm luôn việc phân phối chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường chỉ đứng ra nhận bảo lãnh phát hành (hoặc lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyển việc phân phối chứng khoán cho các CTCK tự doanh hoặc các thành viên khác. Nghiệp vụ khác a. Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán.