Chương 1 và tình hình thực tiễn ở Chương 2. Trong chương nay, tác giả đề xuất các giải pháp về sưu tầm, t6 chức khoa học và phát huy giá trị tư liệu, tài liệu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. 14 Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn Luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của quý thay, cô giáo, đồng nghiệp và các bạn học viên dé chúng tôi tiếp tục hoàn thiện Luận văn.
Qua đây, cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối với PGS. Đào Đức Thuận, người Thay đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này và trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quan trọng trong suốt khóa học Lưu trữ học 2018- 2020. Đồng thời tôi cũng chân thành cảm ơn lãnh đạo Bảo tàng Hồ Chí Minh nơi tôi đang công tác đã quan tâm, tạo điều kiện cho tôi học tập, tiếp cận thực tế; chân thành cảm ơn các bạn, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu Luận văn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VA PHÁP LY VE SƯU TAM, TO CHỨC KHOA HỌC VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TƯ LIỆU, TÀI LIỆU LƯU TRỮ 1.
Cơ sở lý luận về sưu tầm, tổ chức khoa học va phát huy giá trị tư liệu, tài liệu lưu trữ 1. Một số khái niệm liên quan * Khái niệm “tư liệu” Trong cuốn từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh của tác giả Tran Văn Chánh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1931, có định nghĩa “Tư liệu là tài liệu làm việc”. Tư liệu là một dạng vật chất mang thông tin dưới dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh. Với nghĩa như trên, khái niệm “tư liệu” nhiều lúc còn được dùng tương đương với khái niệm “tài liệu”.
Hiện vật bảo tàng bao gồm nhiều loại hình, chất liệu và hình thức: hiện vật thé khối, tài liệu chữ viết, tác phẩm nghệ thuật, phim ảnh va băng ghi âm. Hiện vật cua bảo tang được coi là tư liệu và tài liệu lưu trữ của họ. So với công tác lưu trữ, hiện vật bảo tàng mang tính lịch sử và thẩm mĩ cao đối với tư liệu, tài liệu lưu trữ mang tính pháp lý và độ tin cậy cao. Cả hai loại hình này đều chứa đựng thông tin hướng tới mục đích nghiên cứu khoa học và giáo dục, tuyên truyền, phô biến tri thức.
* Khái niệm “tài liệu lưu trữ” Trong cuốn giáo trình Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ có định nghĩa: “Tài liệu lưu trữ là tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, đoàn thé, xí nghiệp và cá nhân có ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, lịch sử và các ý nghĩa khác được bảo quản trong các phòng, ~, 991 kho lưu trữ 'Đào Xuân Chúc, Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền, Nguyễn Van Thâm (1990) Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ, NXB Dai học và Giáo dục chuyên nghiệp, Ha Nội. 16 Tại Khoản 3, Điều 2, Luật Lưu trữ, tài liệu lưu trữ được định nghĩa như sau: “Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lich sử được lựa chọn dé lưu trữ. Tài liệu lưu trữ bao gom ban sốc, bản chính; trong trường hop không con bản gốc, bản chính thì được thay thé bang bản sao hợp pháp ”. Tài liệu lưu trữ được sử dụng dé minh chứng chủ quyền quốc gia, bảo vệ biên giới và lãnh thô, hoạch định đường lối, chính sách, xây dựng mục tiêu phát triển đất nước.
Tài liệu lưu trữ chứa đựng những giá trị văn hóa ở nhiều mặt khác nhau như nội dung tài liệu, ngôn ngữ thể hiện, vật mang tin nhằm bảo tôn va phát huy những giá trị tốt đẹp. Tài liệu lưu trữ chứa đựng những thông tin có giá trị đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy cao, đóng vai trò quan trọng trong việc kế thừa kết quả nghiên cứu của các thế hệ trước. Tóm lại, tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính hoặc bản sao hợp pháp khi bản gốc, bản chính không còn, là tài liệu được sản sinh trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân, nó chứa đựng những thông tin quá khứ, phản ánh các sự kiện lịch sử, các hiện tượng tự nhiên xã hội có giá trị được lựa chọn đề bảo quản phục vụ các nhu cầu chính đánh của công dân. * Khái niệm “Tài liệu lưu trữ cá nhân” Trong cuốn Tir điển giải thích nghiệp vụ văn thư lưu trữ Việt Nam có giải thích “Tai liệu lưu trữ của cá nhân có giá trị đối với quốc gia và xã hội được đăng ký thong kê tại lưu trữ lịch sử; được hướng dan, giúp đỡ về kỹ thuật bảo quản; được tạo điều kiện để giới thiệu, trưng bày, triển lãm nhằm phát huy giá tri” [21, tr.
Giáo trình Lý luận và thực tiễn công tác lưu írữ được định nghĩa: “Tài liệu xuất xứ cá nhân là tài liệu hình thành trong quá trình sống và hoạt động của một hoặc một nhóm người ” [5, tr. Nói cách khác, tài liệu lưu trữ cá nhân là tài liệu do cá nhân tạo ra không phân biệt về nội dung và hình thức vật lý của tài liệu, có giá trị được lựa chọn dé lưu trữ. 17 Tài liệu lưu trữ chứa đựng các thông tin về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật tiêu biêu đã tồn tại hoặc diễn ra trong quá khứ trên các vật mang tin khác nhau như: giấy, phim, ảnh, băng ghi âm, ghi hình. đa dạng, phong phú cả về nội dung lẫn hình thức phản ánh các van đề về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ; là tài liệu của các cơ quan, t6 chức hoặc cũng có thé tài liệu có xuất xứ cá nhân tiêu biểu, không phân biệt cơ quan bảo quản và lưu giữ, có giá trị đối với quốc gia và dân tộc.
Tài liệu lưu trữ là các bản gốc, bản chính phản ánh trực tiếp hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân một cách khách quan, trung thực, vì vậy nó có giá trị pháp lý cao, là nguồn thông tin đa dạng, phong phú, chân thực và tin cậy được khai thác sử dụng dé phục vụ các mục đích khác nhau cua xã hội. * Khái niệm “Phong lưu trữ cá nhân” Trong cuốn giáo trình Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ được định nghĩa: “Phông lưu trữ các nhân là toàn bộ tài liệu hình thành trong quá trình sống và hoạt động của một nhân vật riêng biệt được đưa vào bảo quản trong một kho lưu trữ nhất định. Phông lưu trữ cá nhân thường được thành lập đối với những nhà hoạt động xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật. mà tài liệu hình thành trong quá trình sống và hoạt động của họ có ý nghĩa chính trị, khoa học lịch sứ và các ý nghĩa khác ” [5, tr.
Phông lưu trữ cá nhân là toàn bộ tài liệu lưu trữ được hình thành trong qúa trình hoạt động của một cá nhân tiêu biểu được đưa bảo quản trong một kho lưu trữ nhất định. Phông lưu trữ cá nhân được bắt đầu từ khi người đó sinh ra và kết thúc khi người đó qua đời. Tuy nhiên, thời điểm kết thúc của phông lưu trữ cá nhân có thể kéo dài cho đến khi không còn các cá nhân khác viết về người đó. * Khái niệm “Thu thập bồ sung tài liệu” Trong 7? điển Lưu trữ Việt Nam, năm 1992 có nêu: “Thu thập tài liệu là quá trình thực hiện các biện pháp bồ sung tài liệu vào lưu trữ thông qua việc xác định giá trị tài liệu.
Thu thập tài liệu được tiễn hành theo hai bước: 18 một là, thu thập tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; hai là, thu thập tài liệu vào Luu trữ lịch sử ”. Tại Khoản 12, Điều 2, Luật Lưu trữ 2011: “Thu thập tài liệu là quá trình xác định nguồn tài liệu, lựa chọn, giao nhận tài liệu có giá trị để chuyển vào Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử ”. Thu thập bé sung tài liệu là quá trình thực hiện các biện pháp có liên quan tới việc xác định nguồn và thành phan tài liệu thuộc lưu trữ co quan và phông lưu trữ quốc gia dé từ đó lựa chon và chuyền giao tài liệu vào các lưu trữ theo quyền hạn và phạm vi đã được nhà nước quy định. * Khái niệm “Suu tam” Trong cuốn Tw điển Tiếng Viét, năm 2004 có giải thích như sau: “Sưu tầm là sự tìm kiếm, thu thập một cách có hệ thống, có mục đích”.
Công tác sưu tầm là việc phát hiện và lựa chọn thu thập các tài liệu hiện vật gốc có ý nghĩa bảo tàng, nghiên cứu môi trường sống của các tài liệu hiện vật đó và lập hồ sơ về chúng. Trong cuốn Cơ sở Bảo tàng học Trung Quốc, năm 2008 đã viết: “Sưu tam hiện vật là công tác nghiệp vụ cơ bản mà bảo tang căn cứ vào yêu cầu, tính chất và đặc điểm của mình, thông qua mọi con đường để không ngừng bồ sung các văn vật hoặc tiêu bản một các có mục dich”. Công tác sưu tầm của bảo tàng là việc nghiên cứu, phát hiện, lựa chọn và thu thập các tài liệu hiện vật gốc mang ý nghĩa, giá trị bảo tàng phản ánh về lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội, về con người và môi trường tỒn tại theo phương pháp khoa học tùy theo nội dung và loại hình của bảo tàng và là công tác bô sung thường xuyên cho kho cơ sở của bảo tàng. Như vậy, khái niệm “sưu tầm” nhiều lúc còn được dùng tương đương với khái niệm “thu thập”.
* Khái niệm “T6 chức khoa học tài liệu lưu trữ” “Tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ là việc thực hiện các khâu nghiệp vụ cụ thể của công tác lưu trữ nhu phân loại tài liệu, xác định giá trị tài liệu và xây dựng công cụ tra cứu khoa học tài liệu ” [24. 19 Tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ là việc thực hiện tổng hợp các khâu nghiệp vụ của công tác lưu trữ gồm: phân loại, xác định giá trị tài liệu, xây dựng công cụ tra cứu tài liệu được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tô chức, cá nhân theo những đặc trưng nhất định dam bảo tính khách quan, chính xác, có hệ thống, phục vụ thuận lợi, nhanh chóng, có hiệu quả cho nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ.