Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÀI LIỆU LƯU TRỮ 1. Cơ sở lý luận về phát huy giá trị tài liệu lưu trữ 1. Khái niệm tài liệu lưu trữ Trong trình học tập, nghiên cứu tài liệu cũng như thực tiễn từ công việc hằng ngày ở cơ quan và trong đời sống. Chúng tôi hiểu rằng tài liệu lưu trữ được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan tổ chức, các cơ quan đoàn thể, cá nhân, gia đình, dòng họ, tài liệu lưu trữ chứa đựng những thông tin rất quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu và trao đổi thông tin giữa các cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Trong cuốn “Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ” của nhóm tác giả Đào Xuân Chúc, Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền và Nguyễn Văn Thâm đề cập tới khái niệm tài liệu lưu trữ theo lưu trữ học Mác xít như sau: “Tài liệu lưu trữ là tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, xí nghiệp và cá nhân có ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học lịch sử và các ý nghĩa khác được bảo quản trong phòng, kho lưu trữ” [1,6]. Theo khoản 2 Điều 2-Luật Lưu trữ năm 2011 đã đưa ra định nghĩa: “Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tài liệu bao gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê, âm bản, dương bản, ảnh, vi phim, băng đĩa, ghi âm, ghi hình, tài liệu điện tử,… và vật mang tin khác”. Có thể nói, định nghĩa về “tài liệu” quy định trong luật lưu trữ năm 2011 nhìn chung đã khái quát được đặc điểm cơ bản của tài liệu.
Qua đó giúp ta phần nào hiểu thuật ngữ “TLLT” một cách chính xác hơn. Khái niệm chính thức về TLLT Việt Nam được đưa ra trong Khoản 3 Điều 2 Luật Lưu trữ 2011 như sau: “TLLT là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử, được lựa chọn để lưu trữ. Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính, trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp” [19,8]. Khái niệm này cho thấy, TLLT phải thể hiện 8 được các thuộc tính sau: Chứa đựng thông tin quá khứ có giá trị phục vụ các nhu cầu của đời sống xã hội; không phụ thuộc vào nơi bảo quản, thời kỳ lịch sử, vật mạng tin và phương pháp ghi tin; phải đảm bảo giá trị pháp lý.
Qua những khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy một cách khái quát nhất về TLLT là tài liệu phải có nguồn gốc xuất xứ (do các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân sản sinh ra trong quá trình hoạt động). Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính, trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp. Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy khái niệm về tài liệu lưu trữ theo Khoản 3 Điều 2 Luật Lưu trữ năm 2011 đã đưa ra là định nghĩa rất rõ ràng và đầy đủ, đã khái quát được đặc điểm cơ bản của tài liệu. Từ nội hàm khái niệm tài liệu lưu trữ nêu trên, có thể chỉ ra tài liệu lưu trữ có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất là TLLT chứa đựng thông tin quá khứ: Các thông tin trong tài liệu phản ánh các sự kiện, hiện tượng, biến cố của lịch sử, các thành tựu lao động sáng tạo của nhân dân, các hoạt động của nhà nước, của cơ quan, tổ chức hay của một cá nhân tiêu biểu, kiệt xuất trong quá trình tồn tại và phát triển.
Các thông tin này đã xảy ra trong quá khứ, được ghi lại bằng vật liệu và phương pháp ghi tin nhất định để lưu giữ và truyền lại cho các thế hệ tương lai. Thứ hai là TLLT có tính chính xác cao: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Luật Lưu trữ 2011 “TLLT phải là bản gốc, bản chính, trường hợp không có bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp” để đảm bảo giá trị pháp lý và độ tin cậy cho tài liệu. TLLT mang những bằng chứng thể hiện độ chân thực cao như chữ ký của người có thẩm quyền, dấu của cơ quan, bút tích của tác giả… Do vật TLLT còn được gọi là tài liệu gốc, tư liệu gốc hay sử liệu gốc. Thứ ba là TLLT do nhà nước thồng nhất quản lý: TLLT được đăng ký, bảo quản và khai thác sử dụng theo các quy định của pháp luật để đảm bảo an toàn, tránh mất mát, thất lạc tài liệu, đặc biệt là các tài liệu quý hiếm và các tài liệu mang thông tin bí mật nhà nước.
TLLT bao gồm nhiều loại hình phong phú và đa dạng. Để quản lý một cách khoa học loại hình này, các nhà lưu trữ học phải nghiên cứu đặc điểm của mỗi loại 9 hình tài liệu và phân loại chúng một cách hợp lý. Có thể phân chia TLLT thành các loại cơ bản sau: - Tài liệu hành chính: Bao gồm các loại văn bản có nội dung phản ánh những hoạt những hoạt động về quản lý nhà nước trên các mặt khác nhau của đời sống như chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, lịch sử,. Tài liệu hành chính có nhiều thể loại, tùy thuộc vào những giai đoạn lịch sử khác nhau với các đặc thù khác nhau.
Ví dụ: Phông tài liệu lưu trữ Khu và liên khu tài liệu hành chính gồm: Tài liệu về Sắc lệnh của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa về việc thành lập các UBHC Khu Tự trị Tây Bắc; Sắc lệnh về việc thành lập Liên Khu III; Tài liệu về cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của Khu và liên khu; Thông tư hướng dẫn của Chính phủ về việc bỏ cấp khu, hợp tỉnh; Thông tư hướng dẫn về việc giải thể các Khu Tự trị… - Tài liệu khoa học công nghệ: Loại tài liệu có nội dung phản ánh các hoạt động về nghiên cứu khoa học, phát minh, sáng chế, về thiết kế xây dựng các công trình xây dựng cơ bản, về thiết kế, chế tạo các sản phẩm công nghiệp, về điều tra, khảo sát, thăm dò tài nguyên thiên nhiên, địa chất, thủy văn, trắc địa bản đồ. Tài liệu khoa học - kỹ thuật có nhiều loại như bản vẽ, bản thuyết minh kỹ thuật, sơ đồ, biểu đồ, tà liệu tính toán,. Ví dụ: Phông tài liệu lưu trữ Khu và liên khu có các tài liệu khoa học công nghệ gồm: Tài liệu về đề án thiết kế xây dựng xưởng đường bột, rượu, giấy Khu Tự trị năm 1962; Tài liệu về thiết kế trạm khí tượng Padin Mộc Châu năm 1962; Tài liệu bản thuyết minh đề án thiết kế công tình Khu Đảng bộ Tây Bắc của Sở Kiến trúc Khu Tự trị năm 1960. - Tài liệu nghe nhìn: là loại tài liệu phản ánh các hoạt động văn hóa xã hội lao động sáng tạo của con người và các hoạt động khác.
Tài liệu này có khả năng tái hiện lại các sự kiện, nhân vật bằng hình ảnh, âm thanh tạo nên những dấu ấn riêng biệt thú vị. Tài liệu nghe nhìn có thể là các cuộn phim, âm bản ảnh, dương bản ảnh,. Ví dụ: Phông tài liệu lưu trữ Khu và liên khu tài liệu ảnh gồm: + Tài liệu ảnh: Đoàn đại biểu Tuyên Quang theo dõi báo cáo của UBHC Khu. 10 + Tài liệu ảnh: Hội nghị đại biểu HĐND Khu TTVB kỳ họp thứ nhất, khóa III ngày mùng 6 tháng 6 năm 1963.
+ Tài liệu ảnh: Chủ tịch UBHC Khu Tự trị Việt Bắc – Lê Dục Tôn thay mặt Chủ tịch đoàn nhận hoa của đoàn học sinh chào Hội nghị. + Tài liệu ảnh: Chân dung các đại biểu, cán bộ Khu Tự trị Việt Bắc. + Tài liệu ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng nhân dân các dân tộc Việt Bắc. + Tài liệu ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với Bí thư Khu ủy Khu Tự trị Việt Bắc - Chu Văn Tấn đang cùng nhau làm việc.
+ Tài liệu ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong khi đi công tác ở Việt Bắc thời kỳ kháng chiến chống Pháp. + Hợp tác xã Nông nghiệp 5-1974 Ba Nhất - Phú Thượng - Võ Nhai - Bắc Thái sản xuất khá, làm công tác giáo dục bình dân học vụ khá. Ảnh: Lúa mới lên nương thâm canh…. - Tài liệu văn học - nghệ thuật: là những tài liệu phản ảnh hoạt động sáng tác văn học nghệ thuật của những nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ… Loại tài liệu này chủ yếu là bản thảo của tác phẩm văn học, nghệ thuật, thư từ trao đổi, tài liệu về các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ,… Ví dụ: Phông tài liệu lưu trữ Khu và liên khu tài liệu văn học, nghệ thuật gồm: Kế hoạch sáng tác văn học nghệ thuật Hội nhà văn, Hội nhà thơ Khu Tự trị năm 1961; Đề án xây dựng phát hành ấn phẩm văn học, nghệ thuật Khu Tự trị năm 1968; Phong trào hội thi sáng tác các ấn phẩm, tác phẩm thơ, ca, nhạc kịch Khu Tự trị năm 1966….
- Tài liệu điện tử: là tài liệu sản sinh, tồn tại và tiêu hủy trong môi trường điện tử. Tài liệu điện tử ra đời do sự phạt triển không ngừng của công nghệ thông tin và máy tính điện tử. Loại hình tài liệu này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong công tác lưu trữ bởi tính hiện đại và các ưu điểm vượt trội về khả năng lưu trữ rất lớn của nó so với tài liệu giấy. Khái niệm tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ 11 Tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ là là quá trình tổ chức khai thác thông tin tài liệu lưu trữ phục vụ yêu cầu nghiên cứu lịch sử và yêu cầu nghiên cứu giải quyết những nhiệm vụ hiện hành của cơ quan, tổ chức và cá nhân [9, 239].
Khái niệm phát huy giá trị tài liệu lưu trữ Việc phát huy giá trị tài liệu lưu trữ đã có từ rất lâu bởi nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Vấn đề phát huy giá trị tài liệu lưu trữ phải dựa trên cơ sở lý luận của lưu trữ ta có thể phát huy tối đa giá trị tài liệu lưu trữ của quốc gia nhằm phục vụ sự phát triển của đất nước trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, giáo dục, an ninh quốc phòng.