CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY NLĐ TRONG CÁC CÔNG TY 1. KHÁI QUÁT VỀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY NLĐ 1. Một số khái niệm a. Lao động Lao động là một hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm mục đích sản xuất ra của cải vật chất có ích cho xã hội [3,tr14].
Hoạt động lao động không những làm thay đổi, cải tạo tự nhiên mà còn cải tạo ngay cả bản thân con người. Trong quá trình lao động, con người tích lũy được kinh nghiệm sản xuất, làm giàu tri thức của mình, hoàn thiện cả thể lực và trí lực. Người lao động Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động, là thành viên của tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp và đảm nhiệm một công việc cụ thể nào đó của tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp [17, tr. Nhu cầu, lợi ích và các loại nhu cầu - Nhu cầu là sự đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinh thần cần được đáp ứng và thỏa mãn.
Nhu cầu được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức. Nhu cầu sống và phát triển của con người là một tất yếu. Nhu cầu xuất hiện, con người “đòi” phải được thỏa mãn. Quá trình “đòi” thỏa mãn nhu cầu là quá trình thôi thúc con người hành động [26, tr 58].
- Lợi ích là nhu cầu được thỏa mãn. Nhu cầu luôn gắn với lợi ích của con người. Hiểu rõ nhu cầu cấp thiết và lợi ích chính đáng của con người, biết Luan van 7 tác động vào nhu cầu, lợi ích để con người hoạt động tích cực, có kết quả là yêu cầu hàng đầu của người lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp [26, tr 58]. - Phân loại nhu cầu + Căn cứ vào tính chất ta có nhu cầu cá nhân và nhu cầu xã hội [26,tr60].
Nhu cầu cá nhân là một hiện tượng tâm lý cá nhân, nó xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có những điều kiện nhất định nào đó để đảm bảo sự tồn tại và phát triển cho bản thân mình. Nhu cầu xã hội là hiện tượng tâm lý xã hội tồn tại ở nhiều con người cụ thể khác nhau nhưng có tính phổ biến và đồng nhất. Đó là nhu cầu chung của nhóm có nhiều cá nhân là thành viên, trở thành của cả nhóm về những điều kiện nhất định, đảm bảo sự tồn tại, phát triển của nhóm. + Căn cứ vào đối tượng thỏa mãn nhu cầu, ta có nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần [26,tr 61].
Nhu cầu vật chất là những đòi hỏi về điều kiện vật chất tự nhiên chính đáng, tất yếu như các điều kiện ngoại cảnh, địa lý các cơ sở và yếu tố vật chất đảm bảo cho con người và xã hội có thể tồn tại và phát triển được (môi trường tự nhiên, cơm ăn, áo mặc, nhà ở và các bản năng, sinh lý khác). Nhu cầu tinh thần là sự đòi hỏi các giá trị tinh thần làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội. Quan hệ giữa nhu cầu tự nhiên, vật chất và nhu cầu xã hội, tinh thần của con người là quan hệ sinh tồn, hữu cơ, không thể xem nhẹ mặt nào. Quản lý việc phát hiện và làm thỏa mãn nhu cầu cả về đời sống vật chất và tinh thần của con người, định hướng và giáo dục nhu cầu (vật chất và tinh thần) là nhiệm vụ quan trọng.
Nó không những tạo động lực cho sự phát triển mà còn thể hiện tính nhất quán của mục tiêu về con người, cho con người và được con người. Luan van 8 + Trong tâm lý học, theo Abraham Maslow còn phân loại nhu cầu con người nói chung thành một hệ thống hình tháp theo 5 bậc. Maslow chia nhu cầu của con người thành 5 bậc từ thấp đến cao. Các nhu cầu bậc thấp là nhu cầu sinh học và an toàn.
Các nhu cầu bậc cao gồm nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và tự thể hiện. Maslow cho rằng khi các nhu cầu bậc thấp gồm nhu cầu sinh học và nhu cầu an toàn được thỏa mãn thì con người thường hướng đến các nhu cầu cao hơn. Khi các nhu cầu ở bậc thấp hơn được đáp ứng thì con người không còn nhu cầu này nữa. Maslow cũng cho rằng tại một thời điểm con người chỉ có một nhu cầu duy nhất nhưng về sau các nhà nghiên cứu cho rằng tại một thời điểm con người có thể có nhiều nhu cầu khác nhau.
Vì vậy, nhà quản trị cần tìm cách thỏa mãn nhiều nhu cầu khác nhau của nhân viên. Trong đó, ưu tiên đáp ứng các nhu cầu bậc thấp trước và chú trọng đến thỏa mãn các nhu cầu bậc cao. Nhu cầu tự thể hiện Nhu cầu được tôn trọng, mến mộ, Nhu cầu giao tiếp, quan hệ xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh học Sơ đồ 1. Sơ đồ phân loại nhu cầu con người theo 5 bậc của Maslow * Nhu cầu sinh học: Nhu cầu sinh học gồm các nhu cầu căn bản nhất để đảm bảo cuộc sống như nhu cầu về thực phẩm, quần áo, không khí, nước uống, nơi ở và nghỉ ngơi.
Luan van 9 * Nhu cầu an toàn: Nhân viên cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo. * Nhu cầu xã hội: Nhu cầu xã hội gồm nhu cầu được chấp nhận bởi đồng nghiệp, có tình bạn, được yêu thương, được xem là thành viên quan trọng trong tập thể của nhân viên. * Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu được tôn trọng gồm nhu cầu về sự thành đạt, được tin tưởng, được tôn trọng và được công nhận bởi những đồng nghiệp của nhân viên. * Nhu cầu tự thân vận động: Đây là bậc nhu cầu cao nhất của nhân viên gồm nhu cầu thể hiện sự sáng tạo, thể hiện khả năng và phát triển cá nhân.
+ Thuyết nhu cầu cẩu McClelland: McClelland và các cộng sự đưa ra thuyết có 3 loại nhu cầu gồm thành tích, quyền lực và hội nhập. Các nhà nghiên cứu chú trọng vào nhu cầu thành tích, người có nhu cầu thành tích cao làm việc tốt nhất khi xác định được khả năng thành công là 50%. * Nhu cầu thành tích: Là động lực muốn vượt trội, thành đạt liên quan đến phấn đấu để thành công. * Nhu cầu quyền lực: Là nhu cầu muốn người khác cư xử theo cách khác với cách cư xử thông thường của họ.
* Nhu cầu hội nhập: Là mong muốn các quan hệ thân mật và gần gũi giữa các cá nhân với nhau. Vận dụng Học thuyết nhu cầu của Maslow trong việc đáp ứng nhu cầu cho người lao động trong doanh nghiệp, ta có thể chia nhu cầu theo cấp độ từ thấp đến cao gồm 5 cấp độ theo Bảng 1.1 sau: Luan van 10 Bảng 1. Phân loại nhu của NLĐ cầu theo 5 bậc trong DN Cấp độ Loại nhu cầu Các nhu cầu cụ thể của người lao động trong DN Ăn, uống, ở, nghỉ, vệ sinh, đi lại, môi trường làm việc 1 Về sinh lý trong lành, thu nhập bằng mức lương tối thiểu chung theo quy định của nhà nước, việc làm ổn định. Bảo đảm an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy, nổ, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, an ninh trật tự 2 Về sự an toàn trong doanh nghiệp, được doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các chế độ như BHXH, BHYT, BHTN.
Được tham gia Được tham gia sinh hoạt trong tổ chức Đảng, đoàn thể các tổ chức và tại doanh nghiệp, thực hiện quyền làm chủ trực tiếp, 3 hoạt động xã làm chủ đại diện theo quy định của pháp luật, tham gia hội vào các hoạt động xã hội, từ thiện tự nguyện. Được tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý, kiểm Được khẳng tra, giám sát trong doanh nghiệp. Được khuyến khích, 4 định năng lực, khen thưởng và phong tặng các danh hiệu thi đua phù sở trường hợp với công sức đóng góp và thành tích đạt được. Được phát huy Thực hiện phát minh, sáng chế, sáng kiến kinh 5 tài năng và sức nghiệm, lao động sáng tạo, phát minh mới đem đến sự sáng tạo phát triển cho doanh nghiệp.
Động cơ Động cơ là những gì thôi thúc con người có những ứng xử nhất định một cách vô thức hay hữu ý và thường gắn liền với những nhu cầu. Trong kinh tế, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy con người suy nghĩ và hành động. Động cơ ám chỉ cả nỗ lực bên trong lẫn bên ngoài của một con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành Luan van 11 động đã xác định. Để người lao động làm việc tốt thì người lãnh đạo quản lý cần phải loại trừ những nhân tố tiêu cực có thể triệt tiêu động cơ làm việc tự nhiên của người lao động và cần phải biết phát triển những yếu tố tích cực để thúc đẩy người lao động làm việc.
Khi đó người lãnh đạo, quản lý sẽ tận dụng được động cơ thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn. Động lực thúc đẩy người lao động Động lực thúc đẩy người lao động là cái thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc và cống hiến. Động lực có liên quan đến nhu cầu và lợi ích của con người. Động lực thúc đẩy là kết quả của nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người, môi trường sống và làm việc của con người.
Chức năng quan trọng của người lãnh đạo, quản lý là phải điều khiển và thúc đẩy nhân viên của mình. Muốn vậy, cần phải tạo cho họ những động lực. Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay nói cách khác là lợi ích tạo ra động lực trong lao động, song trên thực tế động lực được tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó như là một nhân tố cho sự phát triển của doanh nghiệp. Muốn lợi ích tạo ra động lực phải tác động vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những hoạt động cụ thể.