CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại Để có thể tìm hiểu được định nghĩa của dịch vụ NHTM cần phải làm rõ được định nghĩa về dịch vụ. Dịch vụ là một khái niệm rộng lớn, phức tạp nên vẫn chưa có một định nghĩa đầy đủ và bao quát về nó. Tuy nhiên theo cách giải thích đơn giản nhất của từ điển Việt Nam, dịch vụ được hiểu là những hoạt động được thực hiện để thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt (Hoàng Phê và cộng sự, 2019). Cũng có quan điểm cho rằng dịch vụ có thể được hiểu là tất cả các hoạt động mang tính chất vô hình được một bên này thực hiện để đáp ứng nhu cầu của một bên khác nhưng không mang tính chất chuyển giao quyền sở hữu với bất cứ tài sản nào.
Nói cách khác, dịch vụ khác với các sản phẩm hữu hình ở đặc tính vô hình của dịch vụ (Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự, 2013) Từ đó có thể thấy dịch vụ là một dạng hàng hóa được cung cấp trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế nhưng khác với các sản phẩm bởi dịch vụ có tính chất vô hình. Dịch vụ ngân hàng hiện nay chưa được đề cập và định nghĩa thống nhất chung trong các nghiên cứu cũng như văn bản pháp lý. Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tất cả các dịch vụ có tính chất tài chính và được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ tài chính được xem là các dịch vụ tài chính. Các dịch vụ bảo hiểm hay có liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ tài chính khác và dịch vụ ngân hàng là tất cả các dịch vụ cấu thành lên dịch vụ tài chính (Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự, 2013).
Hiện nay, tùy thuộc vào quy định của các quốc gia hoặc thông lệ quốc tế mà dịch vụ ngân hàng có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), các hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm hoạt động huy động vốn, hoạt động cấp tín dụng, hoạt động đầu tư và các dịch vụ khác. Trong đó, các dịch vụ khác được hiểu là những hoạt động mang lại thu nhập phi lãi cho ngân hàng hàng từ việc khai thác tài sản, cơ sở vật chất, danh tiếng…. Theo thông lệ quốc tế và phân loại các ngành kinh tế của Tổng cục thống kê Việt Nam, các ngành dịch vụ tài chính đề cập trong Hiệp định về thương mại dịch vụ của WTO thì hoạt động dịch vụ là các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, 8 thanh toán trên thị trường được cung cấp bởi NHTM (Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự, 2013).
Từ đó có thể thấy dịch vụ ngân hàng là nếu xem xét ở phạm vi rộng thì dịch vụ ngân hàng là tất cả các hoạt động tiền tệ, ứng dụng, ngoại hối … của ngân hàng cung cấp cho khách hàng là các doanh nghiệp hay cá nhân để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Trong dịch vụ ngân hàng được chia thành dịch vụ tín dụng và DVPTD. DVPTD là “tất cả những dịch vụ gắn liền với thu phí do các NHTM thự hiện, thông qua cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân nhằm thu được lợi nhuận” (Phan Thị Linh (2015), Luận án tiến sĩ, trang 23). Theo Đào Lê Kiều Oanh và Phạm Anh Thủy (2012), DVPTD của NHTM là bất kỳ dịch vụ sản phẩm nào do ngân hàng cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đem lại cho ngân hàng khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng.
Như vậy, DVPTD của NHTM trong nghiên cứu được hiểu là toàn bộ những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm tạo ra thu nhập nhưng không phải là hoạt động tín dụng.2 Đặc điểm dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại Tổng hợp đặc điểm của dịch vụ ngân hàng nói chung và DVPTD của ngân hàng nói riêng từ nghiên cứu của Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự (2013), DVPTD của NHTM có đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ tài chính, bao gồm:(1) tính vô hình, (2) tính không tách rời giữa quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ, (3) tính không đồng nhất về chất lượng dịch vụ, (4) tính không thể lưu trữ, (5) tính chất thuộc về hoạt động ngân hàng gồm an toàn, hỗ trợ quá trình luân chuyển vốn. Tính vô hình: Tính chất vô hình của dịch vụ được thể hiện qua việc không thể cầm nắm, nhìn thấy dịch vụ như các sản phẩm hữu hình trong nền kinh tế (Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự, 2013). Muốn đánh giá, cảm nhận được dịch vụ, khách hàng phải trải nghiệm, sử dụng dịch vụ đó. Vì tính chất vô hình nên các nhà cung cấp dịch vụ đối mặt với khó khăn trong việc tạo niềm tin để khuyến khích khách hàng sử dụng dịch vụ.
Do đó, việc xây dựng hình ảnh, thương hiệu của NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích khách hàng sử dụng dịch vụ. Ngoài ra, dịch vụ chỉ được tạo ra từ việc thực hiện các quy trình của người thực hiện dịch vụ và việc đánh giá dịch vụ phụ thuộc vào cảm xúc, cảm nhận của người sử dụng dịch vụ. Vì dựa vào 9 yếu tố con người nên chất lượng dịch vụ khó ổn định và có thể bị nhiều nhân tố tác động ảnh hưởng đến quá trình cung cấp dịch vụ và chất lượng dịch vụ. Tính không tách rời trong quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ: Khách hàng sẽ là nhân tố quan trọng tham gia trực tiếp khi quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ diễn ra.
hai quá trình này sẽ diễn ra đồng thời khi khách hàng có nhu cầu, theo một quy trình nhất định, và không thể nào chia cắt thành các thành từng bước riêng biệt. Dịch vụ chỉ được cung cấp hoàn thiện đến khách hàng khi thực hiện tất cả các bước trong quy trình. Do đó, ngoài tính chất vô hình, dịch vụ còn không thể lưu kho, không có dịch vụ dở dang. Tính không đồng nhất về chất lượng dịch vụ: Do quá trình cung cấp dịch vụ diễn ra đồng thời với quá trình tiêu dùng nên chất lượng dịch vụ phụ thuộc lớn vào đội ngũ nhân sự hoặc trang thiết bị thực hiện dịch vụ.
Nếu dịch vụ được chuyên môn hóa, có quy trình nghiệp vụ rõ ràng, ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại trong việc chuyển giao dịch vụ sẽ hạn chế được sự không đồng nhất về chất lượng. Tính không lưu giữ được: Vì dịch vụ có tính chất vô hình và chỉ xuất hiện khi khách hàng có nhu cầu và người cung cấp dịch vụ thực hiện cung ứng nên dịch vụ không có tính thể lưu giữ và lưu kho được. Một số thời điểm khi nhu cầu sử dụng dịch vụ cao thì ngân hàng không thể trữ kho dịch vụ mà chỉ có thể điều động, bố trí nhân lực, sắp xếp công việc vào thời điểm khách hàng có nhu cầu tăng đột biến để đảm bảo thực hiện dịch vụ tốt nhất. Tính chất đặc trưng liên quan đến hoạt động ngân hàng: Ngoài những đặc điểm chung của dịch vụ, DVPTD của ngân hàng còn mang những đặc điểm riêng.
Trong đó, DVPTD là những dịch vụ không phải sử dụng tiền để thực hiện giao dịch mà sử dụng nhân lực, cơ sở vật chất, công nghệ để cung cấp dịch vụ. Liên quan đến DVPTD, ngân hàng sẽ thực hiện thu phí - nguồn thu tương đối an toàn và rủi ro thấp. Các DVPTD của ngân hàng đa dạng và phong phú như quản lý tài khoản, ủy thác, giữ hộ, và dịch vụ thanh toán… 1.3 Phân loại DVPTD của ngân hàng thương mại 1.1 Dịch vụ thanh toán Một trong những hoạt động cốt lõi của NHTM là hoạt động thanh toán qua tài khoản, do đó, dịch vụ thanh toán là dịch vụ mang tính đặc trưng của các NHTM. Dịch 1 vụ thanh toán nếu dựa trên phạm vi thực hiện được chia thành dịch vụ thanh toán trong nước và dịch vụ thanh toán quốc tế.
Dịch vụ thanh toán trong nước gồm séc, thẻ, ủy nhiệm thu và ủy nhiệm chi. Các dịch vụ này đa dạng hình thức có thể thông qua giấy hoặc các giao dịch điện tử. Trong các dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ ngày càng phổ biến bởi những tiện ích mà phương tiện thanh toán mang lại. Thông qua thẻ, khách hàng được hưởng các dịch vụ khác thông qua công nghệ như rút tiền, thanh toán hóa đơn, thanh toán tiền hàng.
Thẻ cũng đa dạng phạm vi sử dụng gồm thẻ quốc tế và thẻ nội địa. Dựa trên mạng lưới chi nhánh, công nghệ mà các giao dịch thực hiện nhanh chóng, hiện đại, an toàn. Dịch vụ thanh toán quốc tế đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển giao dịch ngoại thương. Các dịch vụ thanh toán quốc tế như thư tín dụng, nhờ thu, chuyển tiền giao hàng…góp phần giúp ngân hàng thu được khoản phí cũng như có được nguồn ngoại tệ.
Dịch vụ ngân hàng điện tử Ngân hàng điện tử là dịch vụ mà các NHTM kết hợp công nghệ trong việc cung ấp dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng điênh tử gồm Phone Banking, SMS Banking, Mobile Banking, internet banking.Các giao dịch được thực hiện trên nền tảng công nghệ như internet, điện thoại… mà không cần phải giao dịch trực tiếp với nhân viên ngân hàng. Ngân hàng điện tử ngày càng phổ biến bởi những tiện ích giao dịch như không bị giới hạn bởi không gian, thời gian, tiện lợi, nhanh chóng… Với bối cảnh phát triển công nghệ không ngừng, các giao dịch ngân hàng điện tử ngày càng được ưa chuộng và thu hút lượng lớn khách hàng sử dụng. Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ NHTM là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, do đó, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ gồm mua bán, trao đổi ngoại tệ giữa ngân hàng và khách hàng là cá nhân, tổ chức cũng mang lại ngân hàng khoản thu nhập đáng kể.
Giao dịch kinh doanh ngoại tế bao gồm mua bán ngoại tệ cho doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh xuất nhập khẩu hoặc có người thân du học hoặc du lịch, chữa bệnh ở nước ngoài…Cung cấp dịch vụ ngoại hối giúp các ngân hàng thu nhập khoảng chênh lệch tỷ giá từ hoạt động từ mua bán ngoại tệ kèm theo đó được hưởng từ phí chuyển tiền ngoại tệ. Các giao dịch ngoài hối gồm giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ hạn, giao dịch tương lai, giao dịch quyền chọn… 1 1.