Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG CỘNG ĐỒNG GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Dân chủ, dân chủ ở cơ sở, Quy chế dân chủ ở cơ sở là vấn đề được nhiều nhà khoa học, những người làm công tác lý luận chính trị quan tâm ở những góc độ, những khía cạnh khác nhau. Hệ thống chính trị của nước ta dựa trên thiết chế quan trọng đó là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Việc phát huy, thực hiện dân chủ phải được tiến hành một cách thực sự có hiệu quả, không tách rời thiết chế trên với sự quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống pháp luật là công cụ quan trọng nhất để đảm bảo thực thi quyền dân chủ của nhân dân.
Nhà nước cũng quan tâm chú trọng tới việc phát huy dân chủ, bên cạnh đó các tổ chức đoàn thể có vai trò quan trọng trong việc trong việc phát huy quyền dân chủ ở cơ sở. Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 01-3-2000 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của trường học. Mục đích của việc thực hiện dân chủ trong nhà trường là nhằm phát huy quyền làm chủ và huy động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán bộ, viên chức trong nhà trường thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và luật pháp của Nhà nước.
Sau khi ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường, đã có một số bài viết cũng như công trình nghiên cứu của một số tác giả đề cập đến vấn đề này, như: Luận văn thạc sĩ Các biện pháp của Hiệu trưởng thực hiện dân chủ hóa trong quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THPT tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2007 của tác giả Nguyễn Thị Thiệp; Một số biện pháp của hiệu trưởng nhằm tăng cường việc thực hiện dân chủ trong nội bộ trường THPT; Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài khoa học- công nghệ cấp cơ sở tại trường Bồi dưỡng cán bộ Giáo dục và Đào tạo - Hà Nội năm 2001 của chủ nhiệm đề tài Nguyễn Thị Minh;.Các công trình đã đề cập đến một số vấn đề lí luận về dân chủ trong nội bộ nhà trường, tìm hiểu về thực trạng của việc thực hiện dân chủ trong nội bộ trường THPT hiện nay, như: - Làm tốt vai trò quản lý nhà nước của hiệu trưởng, kết hợp đúng đắn chế độ thủ trưởng và nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý nhà trường. - Phát huy quyền chủ động, tự chủ của nhà trường, thực hiện dân chủ, công khai trong việc quản lý nhà trường đi đôi với việc giữ vững nền nếp, kỷ luật, kỷ cương trong nhà trường. - Nâng cao vai trò của các tổ chức chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội khác trong việc thực hiện dân chủ ở nhà trường và phối hợp cùng nhau đẩy mạnh phong trào thi đua "dạy tốt - học tốt". - Xây dựng mô hình "Trường học có đời sống văn hoá tốt".
Đẩy mạnh việc thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục ở nhà trường. Trong luận văn thạc sĩ: Một số biện pháp xây dựng phong cách quản lý dân chủ của hiệu trưởng các trường THPT thành phố Hải Phòng của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh (2004), Khoa Sư phạm- Trường Đại học quốc gia Hà Nội, đã nghiên cứu cơ sở lí luận và đi sâu tìm hiểu thực trạng phong cách quản lý dân chủ của hiệu trưởng trường THPT thành phố Hải Phòng: - Tác giả chú trọng đến biện pháp tác động đến nhận thức của hiệu trưởng, làm sáng tỏ lí do của sự cần thiết phải có phong cách quản lí dân chủ trong trường học. - Cung cấp công cụ để các hiệu trưởng tự đánh giá phong cách quản lí của bản thân. Đặt ra định hướng sự rèn luyện của hiệu trưởng.
- Tổ chức các hoạt động trong nhà trường theo tinh thần dân chủ hoá. Trong bài viết Thực hiện quy chế dân chủ ở trường học của tác giả Nguyễn Thị Xuân Mai, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Tạp chí Giáo dục, số 100, 11/2004), tác giả đưa ra một số giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của chi bộ Đảng, tính gương mẫu của đảng viên trong các nhà trường; trách nhiệm của hiệu trưởng nhà trường trong việc triển khai, tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Tổ chức công đoàn trong các trường học thực hiện tốt chức năng của mình trong phối hợp, giám sát, đôn đốc việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đề tài "Thực hiện Quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cơ sở ở nước ta hiện nay" do hai tác giả Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông đồng chủ trì.
Có thể tìm hiểu khái quát về công trình nghiên cứu này qua cuốn sách cùng tên do NXB Chính trị quốc gia ấn hành năm 2003. Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước về "Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay" do PGS.TS Hoàng Chí Bảo - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, nghiệm thu 2002. Đề tài "Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta" - TS. Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
Đề tài "Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải pháp" của TS. Vũ Hoàng Công - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002. "Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của PGS. TS Dương Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
Dân chủ với phát triển cộng đồng của PGS. TS Trần Quang Nhiếp, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006. Dân chủ và giáo dục của John Dewey, NXB Tri thức, Hà Nội, 2008. Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam, của GS.TSKH Đào Trí Úc - PGS.TS Trịnh Đức Thảo - TS Vũ Công Giao - TS Trương Hồ Hải, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2014.
Các công trình nghiên cứu kể trên đã đi sâu nghiên cứu về việc thực hiện Quy chế dân chủ gắn với tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, ở cơ sở nói riêng. Ở các công trình này, các tác giả cũng chỉ ra phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện dân chủ cơ sở. Như vậy, trong các công trình nghiên cứu, những bài viết đã nêu, các tác giả cũng đã ít nhiều bàn đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, đưa ra những biện pháp thực hiện dân chủ ở các trường học từ cấp mầm non đến cấp THPT hoặc của một đơn vị sự nghiệp hay một địa phương nào đó. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thực hiện dân chủ ở một cơ sở trường học cụ thể chưa nhiều.
Các công trình đi sâu nghiên cứu thực hiện dân chủ ở cơ sở trong các trường THPT cũng còn rất hạn chế. Vì ậy, đề tài nghiên cứu về công tác dân chủ trong cộng đồng giáo viên trường THPT tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm cả về lý luận và thực tiễn vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm Cộng đồng là tập hợp người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng [53].
Trung tâm Nghiên cứu và Tập huấn PTCĐ quan niện rằng: Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy. “Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tình hoặc một quốc gia và được xem như một khối thống nhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó” [75]. Phân loại cộng đồng Cho đến nay đã có nhiều cách phân loại cộng đồng được đề xuất áp dụng trong các nghiên cứu về cộng đồng, tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là những loại sau đây: - Cộng đồng địa lý: Bao gồm các cộng đồng láng giềng, như xóm, phố, làng xã, thành phố, vùng quốc gia, thậm chí cho tới toàn bộ hành tinh. Những cộng đồng này được gọi là cộng đồng địa vực.
- Cộng đồng văn hóa: bao gồm các loại phe phái, tiểu văn hóa, nhóm tộc người, các cộng đồng tôn giáo, cộng đồng đa văn hóa hay các nền văn minh đa nguyên cho tới thậm chí là cộng đồng văn hóa toàn cầu. Loại cộng đồng này còn có thể bao gồm cả những cộng đồng về nhu cầu hay bản sắc, như cộng đồng người khuyết tật hay cộng đồng người cao tuổi. - Cộng đồng tổ chức: Bao gồm gia đình, dòng họ, các mạng lưới, cho tới các tổ chức chính thức, kể cả kết cấu của hệ thống hoạch định chính sách, các tập đoàn kinh tế, hiệp hội nghề nghiệp ở các qui mô nhỏ, dân tộc hay quốc tế. - Cộng đồng tính: + Là dạng thể hiện mối quan hệ xã hội trong đó có những đặc trưng được xác định như: Tình cảm, ý thức về chuẩn mực xã hội (dòng họ, dòng tộc, đẳng cấp hay tầng lớp xã hội).
+ Đặc trưng: Quan hệ mang tính chất thân tình, thân thiện mang độ cố kết có ý nghĩa tự nhiên và thể hiện tính cộng đồng cao. Tính cộng đồng là bền vững, được khẳng định theo thời gian và chính thời gian là yếu tố kết dính các thành viên trong cộng đồng.