CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE CƠ BẢN VE THANH TRA VA THANH TRA CHUYEN NGANH VE BẢO HIEM XÃ HỘI, BAO HIEM THAT NGHIEP, BAO HIEM Y TE 1. Một số van đề lý luận cơ bản về thanh tra 1. Khái niệm về thanh tra Thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tô chức, cá nhân được thực hiện theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng sai, đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy các nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tô chức và cá nhân. Các loại hình thanh tra Theo Luật Thanh tra năm 2010, thì có hai loại hình thanh tra là Thanh tra nhà nước và Thanh tra nhân dân.
Thanh tra nhân dân Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện CSPL, việc giải quyết KNTC, việc thực hiện pháp luật về dan chủ ở cơ sở của cơ quan, tô chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị tran, cơ quan nhà nước, đơn vi sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước (Khoản 1, Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010). Như vậy, thanh tra nhân dân là hoạt động giám sát ở cấp cơ sở, trong đó chủ thé giám sát là nhân dân; đối tượng giám sát là cơ quan, tô chức và cá nhân có trách nhiệm ở cấp xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vi sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước; nội dung giám sát là việc thực thi CSPL, việc giải quyết KNTC, thực thi pháp luật về dan chủ cơ sở. Thanh tra nhà nước Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyên đổi với việc thực hiện CSPL, nhiệm vụ, quyên hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gốm thanh tra hành chính và TTCN.
Hoạt động của thanh tra nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thầm quyền, trên cơ sở một hệ thống các cơ quan thanh tra được thành lập từ Trung ương đến địa phương. Như vậy, cơ quan thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra Chính phủ; Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ; Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thanh tra Sở; Thanh tra quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Cơ quan được giao thực hiện chức năng TTCN gồm: Thanh tra các Ngành thuộc Chính phủ, Thanh tra các Tổng cục, Cục thuộc Bộ, Thanh tra các Sở, Chi cục thuộc Sở. Đặc điểm của thanh tra nhà nước Thứ nhất, hoạt động thanh tra nhà nước gắn liền với quản lý nhà nước - Với tư cách là công cụ của Nhà nước trong hoạt động quản lý, thanh tra nhà nước luôn gắn liền với quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước là một bộ phận của quản lý xã hội và ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó có thanh tra. Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra thi quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra nhà nước. Một thé chế hành chính và cơ chế quản lý nhà nước sẽ không đầy đủ nếu thiếu thanh tra. - Là một khâu trong chu trình quản lý, thanh tra bị ràng buộc, chế ước bởi quản lý, nhưng đồng thời tác động trở lại, góp phần điều chỉnh cách thức, phương pháp quản lý của chủ thé quản lý.
Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, hoạt động có hiệu qua của thanh tra sẽ ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tùy tiện, thiếu kỷ cương trong hoạt động quản lý nhà nước. Thứ hai, hoạt động thanh tra nhà nước luôn mang tính quyền lực của nhà nước - Là một chức năng của quản ly nhà nước, thanh tra phải thé hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thé quản lý đối với đối tượng quan lý. Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra gắn bó chặt chẽ với tính quyền uy - phục tùng - một đặc tính quan trọng của quản lý nhà nước. Quyền lực nhà nước, trên thực tế luôn thuộc về một tổ chức nhất định, không thể có quyền lực nếu không gắn với một tổ chức cụ thé.
Nói về quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra cũng có ý nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tô chức thanh tra. Tính quyền lực nhà nước thê hiện ở những mặt sau: - Ra các quyết định bắt buộc thi hành đối với các đối tượng bị thanh tra trong việc sửa chữa những thiếu sót đã bị thanh tra phát hiện; - Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, yêu cầu truy cứu trách nhiệm đối với những người có lỗi gây ra những vi phạm được phát hiện, ké cả việc chuyền hồ sơ sang cơ quan điều tra đề truy tố trước pháp luật. Trong một số trường hợp, trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Thứ ba, hoạt động thanh tra mang tính khách quan Bản chất của thanh tra là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện CSPL, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan tổ chức và cá nhân nhằm đưa ra kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tổ tích cực, phòng ngừa, xử lý vi phạm góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Vì thế, hoạt động thanh tra phải mang tính khách quan. Tính khách quan của hoạt động thanh tra được biểu hiện ở chỗ mọi hoạt động thanh tra đều dựa trên cơ sở pháp luật và phải tuân theo pháp luật. Thứ tư, hoạt động thanh tra nhà nước có tính độc lập tương đối. Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra.
Đặc điểm này phân biệt thanh tra nhà nước với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy quản lý nhà nước. Tính độc lập trong quá trình thanh tra được thê hiện ở các điểm sau: - Chỉ tuân theo pháp luật; - Tự mình tô chức các cuộc thanh tra theo thâm quyền đã được pháp luật quy định; - Ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về thanh tra; chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra hành chính. Phân loại thanh tra theo chức năng, nhiệm vu Có thanh tra hành chính và TTCN 1. Thanh tra hành chính Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thâm quyền đối với cơ quan, tô chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện CSPL, nhiệm vụ, quyền hạn được giao (Khoản 2, Điều 3, Luật Thanh tra năm 2010).
Đối tượng của hoạt động thanh tra hành chính phải là các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước. Hoạt động thanh tra hành chính không hướng vào các đối tượng là các doanh nghiệp mà phải hướng vào việc xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ cũng như hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. * Đặc điểm hoạt động của thanh tra hành chính Ngoài những đặc điểm chung của hoạt động thanh tra thì thanh tra hành chính còn có một số đặc trưng sau: Thứ nhất, thanh tra hành chính mang tính kiểm soát nội bộ, thanh tra hành chính là hướng vào bản thân bộ máy quản lý, đối tượng của hoạt động thanh tra hành chính là các cá nhân, tô chức, cơ quan có mối quan hệ về tổ chức với co quan quan lý nhà nước. Hoạt động thanh tra hành chính không hướng vào các đối tượng là doanh nghiệp mà phải hướng vào việc xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ cũng như hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.
Vì vậy, thanh tra hành chính chủ yếu áp dụng các biện pháp kỷ luật hành chính. Đây thực chất là hoạt động kiểm tra thường xuyên của cơ quan quản lý, kết hợp với xử lý vi phạm. Thứ hai, néu như mục dich chung của thanh tra là “nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi VPPL, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, CSPL dé kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tô chức, cá nhân", thì mục đích cụ thể của hoạt động thanh tra hành chính là làm trong sạch bộ máy, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong quản lý, điều hành. Thứ ba, chủ thê hoạt động của thanh tra hành chính là các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan thanh tra từ Trung ương đến địa phương, bản chất của thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý cấp trên với đối tượng quản lý cấp dưới trực thuộc.
Thâm quyền ra quyết định thanh tra hành chính là thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước hoặc có thê là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra. Pham vi của hoạt động thanh tra hành chính là đánh giá toàn diện về đối tượng thanh tra hoặc có thể giới hạn một mặt hoạt động của đối tượng thanh tra. Thanh tra chuyên ngành * Khái niệm: TTCN là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thâm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. 10 Hoạt động TTCN chỉ xem xét, đánh giá đối tượng thanh tra trên một hoặc một số mặt hoạt động nhất định liên quan đến thâm quyền của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành.
* Đặc điểm hoạt động của TTCN TTCN là một bộ phận của thanh tra nhà nước nên ngoài mang những đặc điểm của thanh tra nhà nước nói chung, TTCN còn mang những đặc điểm có tính chất đặc trưng như sau: - Hoạt động TTCN gan lién với hoạt động quan ly nhà nước của các chủ thể được giao chức năng quản lý theo ngành, lĩnh vực TTCN gắn liền với công tác quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực.