Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hoạt động ban hành một văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật - Quy định pháp luật và thực tiễn thi hành" được thực hiện bởi tác giả Hồ Ngọc Trâm (mã sinh viên: 453431) dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đoàn Thị Tố Uyên tại chuyên đề thuộc bộ môn Xây dựng văn bản pháp luật, hoàn thành năm 2024.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đặc biệt từ thời điểm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Điều XVI Khoản 4 Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO quy định nghĩa vụ của các thành viên phải bảo đảm tính thống nhất giữa luật, văn bản dưới luật và quy tắc hành chính quốc gia với các cam kết quốc tế. Để triển khai nghĩa vụ này, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11, đặt ra nhiệm vụ rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

Thực tế đòi hỏi phải đổi mới tư duy lập pháp, bởi kỹ thuật truyền thống (ban hành một văn bản để sửa đổi một văn bản) tốn nhiều thời gian, làm chậm tiến độ thực thi các điều ước quốc tế. Kỹ thuật "một văn bản sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản" lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, tiếp tục duy trì và hoàn thiện trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Dù mang lại lợi thế về tốc độ và tính đồng bộ, thực tiễn áp dụng kỹ thuật lập pháp đặc thù này vẫn bộc lộ nhiều vướng mắc, hạn chế về quy trình và chất lượng văn bản.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là dựa trên các phân tích lý luận và thực tiễn thi hành kỹ thuật một văn bản sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản để đánh giá đúng thực trạng, làm rõ nguyên nhân của những tồn tại, từ đó đề xuất các kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao chất lượng hệ thống thể chế.

Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động ban hành một VBQPPL sửa đổi, bổ sung nhiều VBQPPL.
  2. Phân tích, đánh giá, tổng hợp kết quả thực hiện hoạt động ban hành một VBQPPL sửa đổi, bổ sung nhiều VBQPPL trong giai đoạn 2019–2023 (05 năm).
  3. Đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả thi hành hoạt động ban hành dạng văn bản này trên thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động ban hành một VBQPPL sửa đổi, bổ sung nhiều VBQPPL. Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động ban hành một luật sửa đổi, bổ sung nhiều luật của Quốc hội và một nghị định sửa đổi, bổ sung nhiều nghị định của Chính phủ.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn trong khoảng thời gian 05 năm, tính từ ngày 01/01/2019 đến trước ngày 01/01/2024.

Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khung pháp lý được tác giả sử dụng làm nền tảng bao gồm: Hiến pháp năm 2013 (Điều 119 về tính tối cao của Hiến pháp, Điều 84 về thẩm quyền trình dự án luật); Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL; Luật Điều ước quốc tế năm 2016; Pháp lệnh Hợp nhất VBQPPL năm 2012 và Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về mặt khái niệm, tác giả căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 80 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP: "Văn bản sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản là văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ đồng thời các quy định của nhiều văn bản có liên quan". Khóa luận phân định hai trường hợp của kỹ thuật này:

  • Trường hợp thứ nhất: Khi ban hành một văn bản mới, cơ quan ban hành đồng thời bãi bỏ, sửa đổi các điều, khoản của các văn bản trước đó do mình ban hành có nội dung trái với văn bản mới.
  • Trường hợp thứ hai: Cơ quan có thẩm quyền ban hành một văn bản chuyên biệt với mục đích trực tiếp nhằm đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác do chính cơ quan đó ban hành. Phạm vi nghiên cứu của khóa luận tập trung sâu vào trường hợp thứ hai này.

Khóa luận làm rõ hệ thống các nguyên tắc cốt lõi: bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật; nguyên tắc thẩm quyền tác giả (văn bản chỉ được sửa đổi, bổ sung bằng văn bản của chính cơ quan đã ban hành); nguyên tắc xác định cụ thể danh mục điều, khoản, điểm bị sửa đổi, bãi bỏ; và nghĩa vụ xử lý mâu thuẫn quy định ngay trong văn bản mới hoặc chỉ rõ việc tiếp tục áp dụng nếu có ngoại lệ.

Về điều kiện áp dụng, tác giả đối chiếu sự phát triển từ 04 trường hợp tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP sang 03 trường hợp chặt chẽ tại khoản 3 Điều 12 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), gồm:

  1. Để thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên (như yêu cầu nội luật hóa Hiệp định CPTPP).
  2. Khi nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ có liên quan chặt chẽ với nhau để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với văn bản mới được ban hành (như trường hợp triển khai Luật Quy hoạch năm 2017).
  3. Để thực hiện phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính đã được phê duyệt (như việc cắt giảm sổ hộ khẩu giấy theo Đề án 06).

Các phương pháp nghiên cứu được vận dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích: Luận giải khái niệm, thẩm quyền, nguyên tắc, điều kiện và quy trình xây dựng, thể thức trình bày văn bản theo luật định.
  • Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu: Khai thác tài liệu từ các báo cáo của Chính phủ, đề án nghiên cứu, giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội và các bài báo khoa học trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
  • Phương pháp thống kê, so sánh số liệu: Khảo sát toàn diện hệ thống luật của Quốc hội và nghị định của Chính phủ ban hành trong giai đoạn 2019–2023 nhằm xác lập các số liệu thực chứng phục vụ đánh giá thực trạng.

Nguồn dữ liệu thực chứng gồm các văn bản luật, nghị định được ban hành trong giai đoạn 05 năm (2019–2023) do tác giả tự rà soát, thống kê; cùng các báo cáo chuyên đề của Văn phòng Chính phủ và Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về ban hành một văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các vấn đề lý luận và quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động này. Tác giả phân tích bản chất pháp lý của VBQPPL và các thuộc tính đặc thù khi áp dụng kỹ thuật "một văn bản sửa nhiều văn bản". Về nguyên tắc, văn bản phải tuyệt đối tuân thủ thứ bậc hiệu lực pháp lý; tuân thủ thẩm quyền ban hành theo Điều 4 Luật Ban hành VBQPPL. Luật năm 2020 đã bổ sung thẩm quyền của Tổng Kiểm toán nhà nước trong việc phối hợp ban hành thông tư liên tịch về phòng chống tham nhũng, đồng thời ghi nhận hình thức nghị quyết liên tịch 3 bên (giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

Tác giả phân tích sâu 3 điều kiện luật định áp dụng kỹ thuật này gắn liền với các ví dụ thực tiễn:

  • Thực hiện điều ước quốc tế: Phân tích Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 nhằm thực thi các cam kết về dịch vụ phụ trợ bảo hiểm và bảo hộ sở hữu trí tuệ (sáng chế, nhãn hiệu, bồi thường chi phí lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền) theo Hiệp định CPTPP.
  • Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất: Phân tích trường hợp Quốc hội ban hành Luật Quy hoạch năm 2017 dẫn đến việc phải ban hành Luật số 35/2018/QH14 (sửa đổi 37 luật) và Luật sửa đổi 11 luật có liên quan đến quy hoạch để đồng bộ hóa quy định.
  • Đơn giản hóa thủ tục hành chính: Dẫn chứng Nghị định số 104/2022/NĐ-CP sửa đổi 12 nghị định liên quan đến việc bãi bỏ yêu cầu nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi giải quyết thủ tục hành chính, chuyển sang khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo Đề án 06.

Về quy trình, tác giả chỉ ra các giai đoạn: lập đề nghị (nêu khuyến cáo nếu nội dung sửa đổi dưới 20% dung lượng văn bản thì nên dùng hình thức sửa đổi, bổ sung; trên 20% nên thay thế toàn bộ), soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, trình, xem xét thông qua và kỹ thuật hợp nhất văn bản theo Pháp lệnh Hợp nhất VBQPPL năm 2012. Thể thức trình bày tuân thủ Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14, bao gồm 2 cách đặt tên văn bản và kỹ thuật bố cục mỗi điều sửa đổi một văn bản tương ứng (như cấu trúc Nghị định số 11/2019/NĐ-CP sửa đổi 6 nghị định).

Chương 2: Thực trạng ban hành một văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện nay

Chương 2 tập trung phân tích kết quả thống kê thực chứng và chỉ ra các tồn tại, bất cập trong giai đoạn 2019–2023. Tác giả tự tổng hợp số liệu về luật và nghị định được ban hành trong giai đoạn này, so sánh giữa hình thức ban hành thông thường và hình thức một văn bản sửa đổi nhiều văn bản.

Năm Tổng số luật Số luật sửa nhiều luật Tỷ lệ (%) Tổng số nghị định Số nghị định sửa nhiều nghị định Tỷ lệ (%)
2019 18 3 16,7% 100 8 8,0%
2020 17 1 5,9% 159 7 4,4%
2021 2 0 0,0% 136 6 4,4%
2022 12 1 8,3% 126 14 11,1%
2023 10 1 10,0% 88 11 12,5%
Tổng 59 6 ~10% 609 46 ~7,55%

Theo phân tích của tác giả, nếu không áp dụng kỹ thuật một văn bản sửa nhiều văn bản:

  • Quốc hội sẽ phải ban hành 72 luật thay vì 59 luật. Tiêu biểu là Luật số 03/2022/QH15 ban hành ngày 11/01/2022 đã đồng thời sửa đổi, bổ sung 09 luật (Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự) nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, phục hồi kinh tế thời kỳ COVID-19 theo Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư.
  • Chính phủ sẽ phải ban hành 724 nghị định thay vì 609 nghị định. Điển hình là Nghị định số 35/2023/NĐ-CP sửa đổi đồng thời 12 nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.

Bên cạnh các kết quả đạt được, tác giả chỉ rõ 3 nhóm bất cập, hạn chế:

  1. Về hình thức: Việc cùng tồn tại hai dạng thức (văn bản sửa đổi chuyên biệt và văn bản nội dung mới chứa điều khoản sửa đổi văn bản khác như Luật Dân quân tự vệ năm 2019 sửa Luật Nghĩa vụ quân sự và Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 sửa Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Phòng, chống khủng bố) làm giảm tính công khai, minh bạch, gây khó khăn cho việc tra cứu, áp dụng pháp luật của công chức và người dân.
  2. Về quy trình: Chưa có quy trình pháp lý riêng biệt cho loại văn bản này mà vẫn áp dụng quy trình thông thường hoặc lúng túng khi vận dụng quy trình rút gọn. Điển hình là việc sửa đổi 37 luật theo Luật Quy hoạch năm 2017: Quốc hội thông qua ngày 24/11/2017, thời hạn có hiệu lực là 01/01/2019 (chỉ có 12 tháng 6 ngày để Chính phủ chỉ đạo soạn thảo, trình Quốc hội thông qua một luật sửa 37 luật), tạo áp lực thời gian rất lớn. Thực tiễn còn lúng túng về trách nhiệm cơ quan lập đề nghị và phương thức thẩm định, thẩm tra.
  3. Về chất lượng và tuổi thọ văn bản: Một số văn bản ban hành theo kỹ thuật này có tuổi thọ ngắn. Luật sửa đổi một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 đã hết hiệu lực một phần sau 3 năm khi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 được ban hành. Ở cấp nghị định: trong 8 nghị định sửa nhiều nghị định năm 2019, đến nay có 3 văn bản hết hiệu lực một phần, 1 văn bản hết hiệu lực toàn bộ; năm 2020 có 2 văn bản hết hiệu lực một phần, 2 văn bản hết hiệu lực toàn bộ. Nghị định số 69/2022/NĐ-CP trong lĩnh vực hàng hải bị Nghị định số 74/2023/NĐ-CP bãi bỏ một số điều chỉ sau chưa đầy 01 năm thi hành.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động ban hành một văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật

Từ những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn đến hạn chế, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Hoàn thiện pháp luật: Cần bổ sung các điều khoản quy định cụ thể, chi tiết về quy trình, thủ tục, hồ sơ và các nguyên tắc, tiêu chí áp dụng riêng cho kỹ thuật một văn bản sửa nhiều văn bản trong Luật Ban hành VBQPPL và các nghị định hướng dẫn thi hành.
  • Tăng cường trách nhiệm phối hợp: Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, xác định rõ thẩm quyền của cơ quan chủ trì soạn thảo với các cơ quan quản lý ngành trong việc lập đề nghị, đánh giá tác động chính sách và soạn thảo văn bản, tránh việc tập hợp cơ học hồ sơ của từng ngành.
  • Tăng cường năng lực đội ngũ: Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lập pháp, kỹ thuật soạn thảo, rà soát văn bản và tư duy hệ thống cho cán bộ pháp chế tại các bộ, ngành và địa phương.
  • Bảo đảm nguồn lực: Bố trí kinh phí thỏa đáng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc rà soát cơ sở dữ liệu pháp luật và phân bổ thời gian hợp lý cho công tác thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được những kết quả cụ thể gắn liền với hệ thống số liệu thực chứng:

  • Thống kê chi tiết toàn bộ hoạt động ban hành luật và nghị định theo kỹ thuật sửa đổi nhiều văn bản giai đoạn 2019–2023, chỉ ra tỷ lệ áp dụng chiếm 10% ở cấp độ luật (6/59 luật) và 7,55% ở cấp độ nghị định (46/609 nghị định).
  • Chứng minh tính hiệu quả về mặt cơ học khi kỹ thuật này giúp giảm bớt nhu cầu ban hành 13 đạo luật (từ 72 xuống 59 luật) và 115 nghị định (từ 724 xuống 609 nghị định), giải quyết kịp thời các đòi hỏi cấp bách của thực tiễn kinh tế - xã hội và cam kết quốc tế.
  • Khái quát và phân tích thực trạng "tuổi thọ ngắn" của các văn bản ban hành theo kỹ thuật này thông qua số liệu cụ thể về tỷ lệ hết hiệu lực từng phần và toàn bộ của các nghị định giai đoạn 2019–2022.

Đóng góp của tác giả so với các nghiên cứu trước đây:

  • Phần lớn các công trình nghiên cứu trước (như của Ngô Đức Mạnh năm 2005, sổ tay của Bộ Tư pháp năm 2011, Bùi Thu Hằng và Đoàn Thị Trang năm 2019) được thực hiện trước khi Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 được sửa đổi, bổ sung vào năm 2020. Khóa luận của Hồ Ngọc Trâm là công trình nghiên cứu chuyên biệt khảo cứu toàn diện hoạt động này sau khi Luật sửa đổi năm 2020 có hiệu lực thi hành.
  • Đưa ra cái nhìn tổng thể về cả cấp độ luật và nghị định trong khung thời gian 05 năm (2019–2023), chỉ rõ sự khác biệt giữa quy định pháp luật và thực tiễn thi hành, từ đó kiến nghị xây dựng một quy trình lập pháp riêng biệt cho dạng văn bản này.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu do tác giả xác định:

  • Khóa luận mới chỉ tập trung phân tích đối với hình thức luật của Quốc hội và nghị định của Chính phủ; chưa khảo sát các hình thức VBQPPL khác cũng có áp dụng kỹ thuật này như Thông tư của Bộ trưởng, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp.
  • Giới hạn thời gian khảo sát thực tiễn dừng lại ở mốc 05 năm (2019–2023).

Hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo có thể thực hiện:

  • Mở rộng khảo sát kỹ thuật một văn bản sửa đổi nhiều văn bản ở cấp độ văn bản dưới luật của các cơ quan quản lý chuyên ngành (thông tư liên tịch, thông tư của Bộ trưởng) và chính quyền địa phương cấp tỉnh.
  • Nghiên cứu sâu hơn về tác động của kỹ thuật này đối với tính ổn định lâu dài của hệ thống pháp luật và chi phí tuân thủ thủ tục của doanh nghiệp, người dân.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, đặc biệt trong các học phần Xây dựng văn bản pháp luật, Lý luận về Nhà nước và Pháp luật, và Luật Hành chính.
  • Cán bộ làm công tác pháp chế tại các bộ, ngành, cơ quan tư pháp và cơ quan lập pháp: Phần phân tích về điều kiện áp dụng tại khoản 3 Điều 12 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và kỹ thuật trình bày bố cục điều, khoản theo Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14 là tài liệu tham khảo có tính ứng dụng trực tiếp.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất là hệ thống số liệu thống kê chi tiết tại Chương 2 và các phân tích tình huống thực tế (vụ việc Luật Quy hoạch năm 2017 sửa 37 luật, Luật số 03/2022/QH15 sửa 9 luật, Nghị định số 104/2022/NĐ-CP bỏ sổ hộ khẩu giấy).

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định pháp luật hiện hành, một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản trong những trường hợp nào?
Căn cứ khoản 3 Điều 12 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), có 03 trường hợp được áp dụng: (1) Để thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; (2) Khi nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ có liên quan chặt chẽ với nhau để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với văn bản mới được ban hành; (3) Để thực hiện phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính đã được phê duyệt.

2. Trong giai đoạn 2019–2023, việc áp dụng kỹ thuật này đã giúp giảm số lượng văn bản luật và nghị định phải ban hành như thế nào?
Dữ liệu thống kê trong khóa luận chỉ ra rằng nếu không áp dụng hình thức này, Quốc hội sẽ phải ban hành 72 luật thay vì 59 luật (giảm 13 luật), và Chính phủ sẽ phải ban hành 724 nghị định thay vì 609 nghị định (giảm 115 nghị định).

3. Đạo luật nào trong giai đoạn 2019–2023 sửa đổi đồng thời số lượng luật nhiều nhất và ban hành vì lý do gì?
Đó là Luật số 03/2022/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 11/01/2022, sửa đổi đồng thời 09 luật thuộc lĩnh vực đầu tư, kinh doanh và thi hành án. Luật này được xây dựng theo trình tự rút gọn nhằm thực hiện mục tiêu kép: vừa phòng, chống dịch COVID-19, vừa tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh và triển khai Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư.

4. Kỹ thuật trình bày tên của văn bản sửa đổi nhiều văn bản được thực hiện theo những cách nào?
Theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14, tên văn bản có 2 cách thể hiện: (1) Đi kèm cụm từ "sửa đổi, bổ sung một số điều của..." kết hợp khái quát lĩnh vực (ví dụ: Nghị định sửa đổi các nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc Bộ Công Thương); (2) Liệt kê cụ thể tên từng văn bản được sửa đổi (ví dụ: Nghị định sửa đổi Nghị định 92/2016/NĐ-CP và Nghị định 30/2013/NĐ-CP trong lĩnh vực hàng không).

5. Minh chứng nào được tác giả đưa ra để chứng minh tình trạng "tuổi thọ ngắn" của các văn bản ban hành theo kỹ thuật này?
Khóa luận dẫn chứng Luật sửa đổi một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 đã hết hiệu lực một phần sau 3 năm khi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 được ban hành; cùng trường hợp Nghị định số 69/2022/NĐ-CP trong lĩnh vực hàng hải bị bãi bỏ một số điều bởi Nghị định số 74/2023/NĐ-CP chỉ sau chưa đầy 01 năm thi hành.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Ngọc Trâm đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp lý căn bản về kỹ thuật ban hành một văn bản sửa đổi, bổ sung nhiều VBQPPL theo Luật Ban hành VBQPPL sửa đổi năm 2020. Dựa trên nguồn dữ liệu thực chứng 05 năm (2019–2023), công trình đã đánh giá toàn diện vai trò rút gọn số lượng văn bản, đồng thời vạch rõ các bất cập về quy trình lập pháp và tính thiếu ổn định của văn bản sau ban hành. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế phối hợp liên ngành được đề xuất có giá trị thực tiễn cao đối với công tác xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay.