Chương I: Công tác KT, GS của Đảng với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khóa X từ năm 2006 đến nay; Chương II: Mục tiêu, phương hướng, giải pháp tăng cường công tác KT, GS của Đảng với phòng, chống lãng phí ở nước ta trong thời gian tới. Các tác giả đã đề xuất sáu giải pháp tăng cường công tác KT, GS của Đảng với phòng, chống lãng phí, trong đó giải pháp bốn được các tác giả đề cập, đó là kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng cán bộ ngành Kiểm tra Đảng trong phòng, chống lãng phí. Phạm Quang Thanh (2016), “Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các đảng uỷ học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” [103], đã làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn công tác KT, GS của các đảng ủy HV, TSQ Quân đội; xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng công tác KT, GS của các đảng ủy HV, TSQ quân đội; rút ra những kinh nghiệm và đề xuất năm giải pháp nâng cao chất lượng công tác KT, GS của các đảng ủy HV, TSQ Quân đội. Một là, nâng cao nhận thức của cấp uỷ, UBKT các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên về công tác KT, GS; Hai là, quán triệt, thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc, quy chế, quy định và đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp KT, GS; Ba là, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực công tác KT, GS của ủy viên UBKT các cấp; Bốn là, phát huy vai trò trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng trong nâng cao chất lượng KT, GS; Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của đảng ủy, sự chỉ đạo của UBKT và cơ quan chức năng cấp trên đối với công tác KT, GS.
Nguyễn Quang Đông (2020), "Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng ở các đảng bộ trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay" [59], đã làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn đổi mới công tác KT, GS của tổ chức cơ sở đảng ở các đảng bộ trường sĩ quan quân đội. Trên cơ sở đánh giá thực trạng đổi mới công tác KT, GS của tổ chức cơ sở đảng ở các đảng bộ trường sĩ quan quân đội, tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm, đồng thời đề xuất 5 giải pháp tiếp tục đổi mới công tác KT, GS của tổ chức cơ sở đảng ở các đảng bộ trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay, trong đó giải 21 pháp thứ tư tác giả xác định, đó là: Thường xuyên củng cố, kiện toàn UBKT, nâng cao chất lượng đội ngũ ủy viên UBKT đảng ủy cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác KT, GS của tổ chức cơ sở đảng. Tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn về chất lượng công tác KT, GS của UBKT các cấp ở Đảng bộ Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động. Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng công tác KT, GS của UBKT các cấp ở Đảng bộ Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, tác giả đã chỉ rõ nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm nâng cao chất lượng công tác KT, GS của UBKT các cấp ở Đảng bộ Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động.
Tác giả đã đề xuất 6 giải pháp nâng cao chất lượng công tác KT, GS của UBKT, trong đó giải pháp thứ 6 tác giả xác định, đó là: Bồi dưỡng phẩm chất, năng lực và phát huy vai trò nòng cốt của đội ngũ ủy viên UBKT trong nâng cao chất lượng công tác KT, GS của UBKT các cấp ở Đảng bộ Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động. Phạm Văn Trung (2019), "Nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát ở các đảng bộ trung đoàn phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" [125], đã làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn nâng cao hiệu lực công tác KT, GS ở các đảng bộ trung đoàn phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng hiệu lực công tác KT, GS ở các đảng bộ trung đoàn phòng không, tác giả đã rút ra 5 kinh nghiệm, trong đó kinh nghiệm thứ 2 được tác giả xác định: Thường xuyên kiện toàn về tổ chức, nâng cao phẩm chất, năng lực công tác KT, GS của ủy viên UBKT, đồng thời đề xuất 5 giải pháp nâng cao hiệu lực công tác KT, GS ở các đảng bộ trung đoàn phòng không hiện nay. Giải pháp thứ tư tác giả xác định: Xây dựng và phát huy vai trò của UBKT và đội ngũ cán bộ kiểm tra trong nâng cao hiệu lực công tác KT, GS ở đảng bộ trung đoàn phòng không.
Nguyễn Văn Quyết (2016), “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra đối với tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm” [95], đã đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra đối với tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy 22 đảng, UBKT, cán bộ, đảng viên; tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với hoạt động của UBKT; xây dựng, hoàn thiện, thực hiện tốt quy chế, quy trình, đổi mới nội dung, phương pháp kiểm tra trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; tăng cường phối, kết hợp chặt chẽ giữa UBKT với các tổ chức, các cấp, các ngành trong quá trình kiểm tra. Cao Văn Thống, Trần Duy Hưng (2016), “Tăng cường kiểm tra, giám sát đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cán bộ, đảng viên” [111]. Các tác giả khẳng định: Công tác KT, GS của Đảng không chỉ là nội dung thuộc chức năng lãnh đạo của Đảng mà còn là công cụ đắc lực góp phần quan trọng, có hiệu quả nhất vào cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay. Để tăng cường KT, GS đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp.
Một trong những giải pháp quan trọng được các tác giả đề cập, đó là: Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan UBKT và tăng cường cán bộ kiểm tra các cấp, bảo đảm tương xứng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Trần Quốc Vượng (2016), “Nhiệm vụ trọng tâm của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng” [134], nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm của công tác KT, GS, kỷ luật đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII: Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức trong Đảng và toàn xã hội về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác KT, GS, kỷ luật đảng; tăng cường KT, GS của các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp và chi bộ; tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng về cơ chế, phương pháp, quy trình KT, GS, thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại trong Đảng; kiện toàn UBKT, tổ chức bộ máy và cán bộ cơ quan UBKT ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra các cấp. Theo tác giả, để nâng cao chất lượng các cuộc giám sát, cần thực hiện tốt một số nội dung: Một là, nâng cao nhận thức của cấp 23 ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp về công tác giám sát trong Đảng. Hai là, tăng cường công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình.
Ba là, thực hiện tốt phương châm “giám sát phải mở rộng. Bốn là, phát huy vai trò các đồng chí cấp ủy viên, ủy viên UBKT được phân công phụ trách địa bàn, lĩnh vực công tác. Năm là, quan tâm lựa chọn đối tượng giám sát, tập trung vào những vị trí quan trọng, lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra vi phạm. Sáu là, quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan UBKT các cấp, bảo đảm về số lượng và chất lượng cán bộ, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác KT, GS, kỷ luật đảng cho các cấp lãnh đạo và cán bộ làm công tác kiểm tra; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chính sách cán bộ, nhất là cán bộ làm công tác kiểm tra ở cơ sở.
Trần Duy Hưng (2018), “Nâng cao chất lượng công tác giám sát của các cấp ủy trong tình hình mới” [71]. Theo tác giả, để nâng cao chất lượng công tác giám sát của cấp ủy cần thực hiện một số giải pháp: Nâng cao nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên về giám sát đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, phát huy tính chủ động, đi trước trong thực hiện nhiệm vụ giám sát; Các cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả công tác giám sát trong đảng bộ. Chỉ đạo UBKT nâng cao chất lượng tham mưu thực hiện nhiệm vụ giám sát của cấp ủy và của toàn Đảng bộ. Đôn đốc cấp dưới và đảng viên thực hiện nhiệm vụ giám sát; Các cấp ủy chỉ đạo nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng về giám sát; đẩy mạnh công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho cấp dưới; Quan tâm, củng cố, kiện toàn UBKT, tổ chức bộ máy cơ quan UBKT và cán bộ kiểm tra; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ công tác giám sát hiệu quả.
Tô Quang Thu (2018), “Công tác kiểm tra, giám sát góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng” [120].