CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI.1 Quản lý chất lượng công trình xây dựng.1 Khái niệm chất lượng Chất lượng là một khái niệm quen thuộc và được sử dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Tuy nhiên, chất lượng cũng là phạm trù phức tạp, một vấn đề gây nhiều tranh cãi và nhìn nhận không thống nhất. Có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau, tùy theo đối tượng sử dụng, tùy theo thời gian và cách tiếp cận đối với chất lượng [1]. - Theo quan điểm của nhà sản xuất: chất lượng là sự đáp ứng và phù hợp của sản phẩm/dịch vụ với một tập hợp các yêu cầu của tiêu chuẩn, chỉ tiêu thiết kế, quy cách được xác định trước.
- Chất lượng xuất phát từ sản phẩm: chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm, để đáp ứng những nhu cầu phù hợp với công dụng của sản phẩm. - Chất lượng theo hướng thị trường, phản ánh sự đáp ứng các yêu cầu của khách hàng mà người cung cấp sản phẩm/dịch vụ đạt tới. Đó là: “Phù hợp với mục đích hoặc sự sử dụng” (Juran). Khả năng thỏa mãn khách hàng và ảnh hưởng mong muốn và không mong muốn tới các bên quan tâm liên quan [2].
“Những đặc điểm tổng hợp và phối hợp của sản phẩm/dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm/dịch vụ đáp ứng được điều mong đợi của khách hàng” (Feigenbaum); “Là sự thỏa mãn nhu cầu của thị trường/người tiêu dùng với chi phí thấp nhất” (Ishikawa); 4 “Là mức độ của một tập hợp của đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc một quá trình thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan” Theo nghĩa tổng hợp, ngoài mức độ thỏa mãn yêu cầu chất lượng theo đó còn bao hàm giá cả và thời gian giao hàng đúng hạn theo quy định trong hợp đồng.2 Đặc điểm của chất lượng. Chất lượng có những đặc điểm sau: Do chất lượng đo bằng sự thỏa mãn nhu cầu, vậy nên một sản phẩm cho dù có công nghệ chế tạo ra sản phẩm rất hiện đại hay giá trị của chỉ tiêu chất lượng rất cao nhưng vì một lý do nào đó mà không đạt yêu cầu, bởi vậy không được thị trường chấp nhận. Yêu cầu có thể là nhu cầu, đó là những đặc tính không thể thiếu với khách hàng hay các bên liên quan về sản phẩm, nhưng cũng có thể là những mong đợi, nếu đáp ứng được sẽ mang lại tính cạnh tranh cao cho sản phẩm. Có thể chia chất lượng thành chất lượng phải có để đáp ứng nhu cầu và chất lượng hấp dẫn để đáp ứng mong đợi.
Người tạo ra sản phẩm muốn tồn tại và phát triển không chỉ phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà còn phải lưu ý đến các bên quan tâm khác như các yêu cầu về chế định hay pháp luật, tập quán hay văn hóa, sinh hoạt của cộng đồng xã hội… Khi đánh giá chất lượng của sản phẩm, người ta phải xem xét các đặc điểm chất lượng, đó là những đặc điểm của đối tượng liên quan đến yêu cầu cụ thể. Những yêu cầu này không chỉ là khách hàng mà còn là các bên liên quan. Vì chất lượng được đo lường bằng sự thoả mãn nhu cầu, và nhu cầu luôn biến động nên chất lượng cũng không ngừng phát triển theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng. Chất lượng không chỉ là một thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà có thể được áp dụng cho bất kỳ đối tượng nào như một hệ thống hoặc một quá trình 5 1.2 Công trình xây dựng 1.1 Khái niệm công trình xây dựng Công trình xây dựng là sản phẩm do con người tạo ra, vật liệu xây dựng và thiết bị lắp đặt vào công trình, được kết nối và định vị với mặt đất, có thể bao gồm phần ngầm, phần trên mặt đất, dưới nước và trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công nghiệp, công trình giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác.2 Đặc điểm công trình xây dựng Các công trình xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, tuổi thọ cao và giá trị cao đòi hỏi chủ đầu tư phải đón đầu xu thế tiến bộ của xã hội để tránh bị lạc hướng. Công trình xây dựng tổng hợp thúc đẩy kinh tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, kế toán,. Nó đa dạng nhưng độc lập, mỗi công trình được xây dựng theo thiết kế, công nghệ riêng, có giá trị ước tính riêng và ở một điểm nào đó, nơi sản phẩm làm ra cũng là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy Quá trình từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc vào quy mô và độ phức tạp kỹ thuật của từng dự án.
Quá trình xây dựng được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công trình khác nhau, công trình chủ yếu diễn ra ngoài trời nên chịu tác động mạnh của các yếu tố môi trường khác nhau như mưa. , mặt trời, lũ lụt,. buộc các kỹ sư phải theo dõi chặt chẽ những biến động này để giảm thiểu tác hại của nó. Công trình xây dựng là sản phẩm độc nhất và được tiêu thụ theo cách riêng của chúng.
Sản phẩm được coi là tiêu hao trước khi xây dựng theo giá trị ước tính hoặc giá dự thầu nên không thể hiện rõ tính chất thị trường của sản phẩm xây dựng vì sản phẩm xây dựng là sản phẩm đặc biệt.3 Chất lượng công trình xây dựng. Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế. Chất lượng 6 công trình xây dựng không chỉ đảm bảo an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế. [5] Chất lượng công trình xây dựng được đánh giá bằng các đặc tính cơ bản như: độ bền vững, tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn trong khai thác vận hành, tính kinh tế và tuổi thọ công trình.
Chất lượng công trình xây dựng ngoài việc phải đảm bảo an toàn về mặt kỹ thuật còn phải thỏa mãn các yêu cầu về thẩm mỹ, phù hợp với các đặc tính tự nhiên xã hội tại địa điểm xây dựng. Từ góc độ người sử dụng, chất lượng công trình xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: độ bền vững, tin cậy; độ an toàn trong khai thác, sử dụng; tính thẩm mỹ; độ bền của sản phẩm, tính kinh tế. Chất lượng công trình xây dựng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó yếu tố quan trọng nhất là năng lực quản lý của các chủ thể tham gia xây dựng công trình. Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng, từ khâu quy hoạch, từ giai đoạn lập dự án đến khi bàn giao đưa vào sử dụng.
Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của công tác khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát xây dựng đến chất lượng của công tác vận hành, bảo trì trong thời gian khai thác sử dụng.4 Quản lý chất lượng công trình xây dựng. Để công trình xây dựng đảm bảo chất lượng, hiệu quả, quá trình triển khai xây dựng công trình phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau [6]: Công trình xây dựng phải được quản lý chất lượng theo quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan, từ khâu chuẩn bị và thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình đảm bảo an toàn về người, tài sản, thiết bị và công trình. và các công trình lân cận. Các hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được đưa vào sử dụng sau khi đã được nghiệm thu đảm bảo yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn, quy 7 chuẩn kỹ thuật áp dụng cho công trình, yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan.
Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, có biện pháp tự quản lý chất lượng công việc do mình thực hiện Kiểm tra chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện. Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức kiểm tra chất lượng công trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, mức độ và nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình. hoạt động phù hợp với các quy định của nghị định này. Chủ đầu tư có quyền tự mình thực hiện hoạt động xây dựng nếu có đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật.
Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn và kiểm soát việc quản lý chất lượng của các tổ chức và những người tham gia xây dựng công trình; giám định thiết kế, thẩm tra nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình theo quy định của pháp luật. Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng chịu trách nhiệm về chất lượng công việc do mình thực hiện.2 Quản lý chất lượng công tác thiết kế công trình thủy lợi 1.1 Tổng quan về công trình thủy lợi 1.1 Một số định nghĩa Thủy lợi là tổng hợp các giải pháp trữ, điều tiết, chuyển, phân phối, cung cấp, tưới, tiêu, thoát nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối; kết hợp cấp, thoát nước cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước. Hoạt động thủy lợi bao gồm điều tra cơ bản, lập chiến lược và quy hoạch thủy lợi; đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi; quản lý vận hành công trình thủy lợi và vận hành các hồ thủy điện phục vụ tưới tiêu; dịch vụ thủy lợi; bảo vệ và đảm bảo an toàn công trình thủy lợi.