Chương 1, tác giả đã giới thiệu các nội dung cơ bản và quan trọng của đề tài nghiên cứu. Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài, lý do chọn đề tài, nêu tên đề tài, nêu mục tiêu và ý nghĩa của đề tài, và từ đó xây dựng bố cục luận văn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM 2. Khái niệm về dịch vụ Lĩnh vực dịch vụ đang ngày càng phát triển, các nghiên cứu về dịch vụ cũng đang được quan tâm và thu hút nhiều nhà nghiên cứu thực hiện.
Khái niệm dịch vụ được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra. Theo Zeithaml và các cộng sự (1996), dịch vụ là một nghành kinh tế mà kết quả hoạt động sản xuất không đem lại sản phẩm vật chất hữu hình, nhưng đem lại lợi ích có giá trị kinh tế. Quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời và không có khả năng lưu trữ. Theo Tạ Thị Kiều An và các cộng sự (2010), dịch vụ là những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất mà là một hoạt động tạo ra sản phẩm vô hình.
Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng hoặc với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự Luận văn thạc sĩ KT chuyển giao quyền sở hữu. Theo Philip Kotler (2013) phát biểu rằng “dịch vụ là bất cứ một hành động hay một sự thực hiện mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, về bản chất là phi vật thể và không dẫn đến quyền sở hữu của bất cứ thứ gì”. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 không đưa ra khái niệm dịch vụ nhưng quy định về hợp đồng dịch vụ và đối tượng của hợp đồng dịch vụ: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”. “Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.
Như vậy, dịch vụ là công việc có thể thực hiện được mà bên cung cấp thực hiện cho bên sử dụng. Dịch vụ hướng tới khách hàng và mang lại giá trị cho khách hàng. Dịch vụ là một sản phẩm vô hình và không chuyển giao quyền sở hữu. Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ có nhiều điểm khác biệt so với hàng hóa thông thường khác và thường được đánh giá là phức tạp và khó khăn hơn.
Theo Parasuraman và các cộng sự (1985), sự khác biệt giữa dịch vụ và hàng hóa thể hiện ở những đặc điểm sau: Thứ nhất, dịch vụ có tính đồng thời và không thể chia cắt. Tính đồng thời và không thể chia cắt của dịch vụ là một đặc điểm quan trọng để phân biệt với hàng hóa thông thường. Đặc điểm này khẳng định quá trình cung cấp dịch vụ xảy ra đồng thời và liên tục, có sự tham gia của khách hàng và tác động đến quá trình thực hiện dịch vụ. Khác với hàng hóa thông thường, quá trình sản xuất và tiêu dùng có thể tác rời nhau và thường không cùng một mốc thời gian.
Thứ hai, dịch vụ có tính không đồng nhất, không ổn định. Dịch vụ là công việc, hành động, hành vi do con người thực hiện, bị chi phối bởi tâm trạng, thái độ và các yếu tố tác động khác. Do đó, dịch vụ mang tính không đồng nhất và không ổn định. Luận văn thạc sĩ KT Chất lượng dịch vụ cũng tùy thuộc vào người thực hiện, thời gian và địa điểm diễn ra quá trình cung cấp.
Đặc điểm này biểu hiện sự phức tạp của dịch vụ cũng như những khó khăn khi xây dựng chất lượng dịch vụ. Nhà cung ứng cần phải hạn chế sự không đồng nhất và không ổn định của dịch vụ. bằng cách xây dựng tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ, đào tạo, huấn luyện nhân viên; nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc của nhân viên, chuẩn hóa các quy trình thực hiện, giám sát, theo dõi và đo lường sự thỏa mãn của khách hàng thường xuyên. Thứ ba, dịch vụ có tính vô hình.
Đây là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt dịch vụ với hàng hóa thông thường. Tính vô hình của dịch vụ thể hiện ở chỗ sản phẩm dịch vụ không tồn tại ở dạng vật thể, không thể trưng bày, không thể cầm, nắm, nghe hay nhìn thấy trước khi mua. Khách hàng chỉ nhận được sản phẩm dịch vụ ngay khi nó được cung cấp và chuyển giao. Tính vô hình của dịch vụ ảnh hưởng đến việc đánh giá chất lượng dịch vụ.
Khác với hàng hóa thông thường, chất lượng hàng hóa có thể kiểm định bằng các phương tiện kỹ thuật, trong khi chất lượng dịch vụ lại được đánh giá 9 bằng sự cảm nhận, sự hài lòng của khách hàng. Thứ tư, dịch vụ không thể lưu trữ. Đây cũng là một đặc điểm phân biệt với hàng hóa thông thường. Dịch vụ có tính vô hình nên không thể lập kho để lưu trữ như hàng hóa được.
Sản phẩm dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem đi bán như hàng hóa khác mà nó được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. Chính vì dịch vụ vô hình nên dịch vụ được cho là rất mong manh, người cung cấp cũng như người tiếp nhận không thể lưu trữ lại, không thể đem tiêu thụ hay bán ra trong thời gian sau đó. Đặc tính này đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm bắt, dự báo nhu cầu chính xác để xây dựng kế hoạch sản xuất và tiêu thụ hợp lý. Chất lượng dịch vụ 2.
Khái niệm chất lượng dịch vụ Cũng như chất lượng hàng hóa, chất lượng dịch vụ cũng đóng vai trò quan trọng quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay có nhiều Luận văn thạc sĩ KT định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ. Lehtinen và các cộng sự (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, một là quá trình cung cấp dịch vụ và hai là kết quả của dịch vụ. Parasuraman và các cộng sự (1985) cho rằng “chất lượng dịch vụ được xem là khoảng cách khác nhau giữa sự mong đợi về dịch vụ và cảm nhận của khách hàng khi sử dụng dịch vụ.
Tức là, chất lượng dịch vụ là sự khác biệt giữa kỳ vọng với cảm nhận khi sử dụng dịch vụ”. Khác với các quan điểm trên, Cronin và Taylor (1992) cho rằng “chất lượng dịch vụ chính là sự cảm nhận của khách hàng không cần phải so sánh với kỳ vọng cảm nhận của khách hàng mà chỉ cần biết được cảm nhận thực tế của khách hàng”. Nhìn chung, chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng, là những gì mà khách hàng cảm nhận được khi hưởng thụ dịch vụ. Thành phần chất lượng dịch vụ Có nhiều nghiên cứu và quan điểm khác nhau về thành phần chất lượng dịch vụ, trong đó tiêu biểu và được sự quan tâm nhất là các nghiên cứu của các tác giả sau: 2.
Nghiên cứu của Gronroos (1984) Gronroos (1984) cho rằng chất lượng dịch vụ gồm hai thành phần đó là: Chất lượng dịch vụ kỹ thuật(technical quality), xem xét phương diện kết quả của quy trình cung cấp dịch vụ, là những gì mà khách hàng nhận được. Và chất lượng chức năng(funcionical quality), xem xét phương diện quy trình về sự tương tác giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ, thể hiện dịch vụ được cung cấp như thế nào. Luận văn thạc sĩ KT Nguồn: Gronroos, C.1: Mô hình đánh giá chất lượng kỹ thuật/chức năng của Gronroos 2. Nghiên cứu của Parasuraman và cộng sự (1985) Parasuraman và cộng sự (1985) đã nghiên cứu về chất lượng dịch vụ thông qua kỳ vọng của khách hàng, cảm nhận chất lượng dịch vụ và xây dựng mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ như sau: 11 Nguồn: Parasuraman và cộng sự (1985) Luận văn thạc sĩ KT Hình 2.2: Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ Khoảng cách 1 (GAP 1): Là sự chênh giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng với kỳ vọng của khách hàng.
Khoảng cách 2 (GAP 2): Là sự chênh giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng với tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ. Khoảng cách 3 (GAP 3): Là sự chênh giữa tiêu chuẩn dịch vụ với dịch vụ thực tế cung ứng cho khách hàng. Khoảng cách 4 (GAP 4): Là sự chênh giữa chất lượng dịch vụ thực tế đã cung ứng với chất lượng dịch vụ đã thông tin với khách hàng. Khoảng cách 5 (GAP 5): Là sự chênh giữa dịch vụ khách hàng nhận được với kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ.
Trong mô hình này, chất lượng dịch vụ là khoảng cách thứ 5. Khoảng cách thứ 5 này là hàm số phụ thuộc vào 4 khoảng cách trước đó. Theo mô hình SERVQUAL, chất lượng dịch vụ được xác định như sau: 12 Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ, cùng với thang đo SERVQUAL được nhiều nhà nghiên cứu cho là khá toàn diện (Svensson, 2002). Thông qua các kiểm tra thực nghiệm với bộ thang đo và các nghiên cứu lý thuyết khác nhau, Parasuraman và các cộng sự khẳng định rằng SERVQUAL là bộ công cụ đo lường chất lượng dịch vụ tin cậy và chính xác.
Họ cũng khẳng định rằng bộ thang đo có thể ứng dụng cho các bối cảnh dịch vụ khác nhau, dù đôi khi cần phải diễn đạt lại và/hoặc bổ sung thêm một số phát biểu. Nghiên cứu của Cronin and Taylor (1992) Nghiên cứu của Cronin và Taylor (1992) dựa trên mô hình và thang đo SERVQUAL của Parasuraman và các cộng sự. Thang đo SERVPERF khắc phục một số khó khăn của thang đo SERVQUAL và được sử dụng để đo lường cảm nhận của khách hàng từ đó xác định chất lượng dịch vụ thay vì đo lường cả chất lượng theo cảm Luận văn thạc sĩ KT nhận lẫn kỳ vọng như thang đo SERVQUAL. Thang đo này cũng dựa trên 5 nhân tố của chất lượng dịch vụ: sự tin cậy, sự đáp ứng, phương tiện hữu hình, sự đảm bảo, sự đồng cảm và cũng sử dụng 22 mục phát biểu tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, bỏ qua phần hỏi về kỳ vọng, để đo lường 5 nhân tố trên.
Cronin và Taylor (1992) cho rằng “mức độ cảm nhận của khách hàng đối với sự thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp phản ánh tốt nhất chất lượng dịch vụ”. Kết luận này đã được đồng tình bởi các tác giả khác như Lee và ctg (2000), Brady và ctg (2002).