Chương 1 tác giả đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu, chương này tác giả sẽ giới thiệu khái quát về Bưu điện tỉnh Trà Vinh và trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến sự hài lòng của khách hàng, làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu. Đầu tiên là t ổ n g h ợ p lý thuyết về các khái niệm chính của nghiên cứu: dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng, dịch vụ Phát hàng thu tiền. Kế tiếp, tác giả đưa ra các mô hình đã nghiên cứu trước đây ở trong nước và nước ngoài có liên quan đến sự hài lòng của khách hàng làm cơ sở để tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu ban đầu của mình. Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh, theo Gronroos (1990), dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ.
Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.2 Đặc tính của dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Tính vô hình Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Khi mua sản phẩm vật chất, khách hàng có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lượng trước khi mua nhưng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá như thế.
Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” như sản phẩm vật chất. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một 5 cách đúng đắn nhất. Tính không đồng nhất Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ.
Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ “cao cấp”, “phổ thông” đến “thứ cấp”. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vảo một thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể. Tính không thể tách rời Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra dồng thời cùng lúc với nhau.
Nếu hàng hóa thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó. Đối với sản phẩm hàng hóa, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. Nói cách khác, sự gắn liền của hai quá trình này làm cho dịch vụ trở nên hoàn tất. Tính không thể cất trữ Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác.
Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại. Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 2. Định nghĩa Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được.
Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau. Theo Lewis và Mitchell (1990) và Dotchin và Oakland (1994), chất lượng dịch vụ liên quan đến khả năng dịch vụ đó đáp ứng nhu cầu hoặc kỳ vọng của khách hàng.Tiếp theo American Society for Quality (ASQ), chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi 6 nhu cầu và làm hài lòng khách hàng. Và theo Parasuraman (1985, 1988), Chất lượng dịch vụ được xác định bởi sự khác biệt giữa sự mong đợi của khách hàng về dịch vụ và đánh giá của họ về dịch vụ mà họ nhận được”. Sau đó, Servqual tiếp tục được hoàn thiện thông qua việc tập trung vào khái niệm về “Sự cảm nhận chất lượng"của người tiêu dùng vì sự cảm nhận chất lượng của khách hàng là việc đánh giá có tính khách quan nhất về chất lượng của dịch vụ.
Định nghĩa sự hài lòng của khách hàng Theo Philip Kotler (2007), sự hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ với những kỳ vọng của anh ta. Mức độ hài lòng phụ thuộc sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng. Còn theo Heskett và cộng sự (1994), chất lượng dịch vụ sẽ tác động đến sự hài lòng của khách hàng và tạo nên sự trung thành của khách hàng. Hệ quả là doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp tăng, sẽ tác động trở lại để doanh nghiệp có điều kiện cải thiện hơn nữa chất lượng dịch vụ của khách hàng.
Theo Parasuraman, Zeithaml, Berry (1988), mức độ hài lòng có thể đo lường với 5,7 khoảng cách. Sử dụng thang điểm Likert để cho điểm các khoảng cách, có 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng: (1) Phương tiện hữu hình: thể hiện bên ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, công cụ truyền thông. (2) Sự tin cậy: thể hiện khả năng đáng tin cậy và chính xác khi thực hiện dịch vụ. (3) Sự đáp ứng: thể hiện cung cấp dịch vụ kịp thời và sẳn lòng giúp đỡ khách hàng.
(4) Sự đảm bảo: thể hiện trình độ chuyên môn và sự lịch lãm của nhân viên, tạo niềm tin cho khách hàng. (5) Sự cảm thông: thể hiện sự ân cần, quan tâm đến từng khách hàng. Khái quát về dịch vụ phát hàng thu tiền (COD) 2.1 Khái niệm Dịch vụ Phát hàng Thu tiền hay gọi tắt là dịch vụ COD là dịch vụ đặc biệt mà người gửi có thể sử dụng kèm với các dịch vụ Bưu chính chuyển phát để ủy thác cho Bưu điện thu hộ một khoản tiền nơi người nhận khi phát bưu gửi và chuyển trả khoản 7 tiền đó cho người gửi. Các chỉ tiêu chất lượng của dịch vụ a) Chỉ tiêu đáp ứng thời gian toàn trình (Ktt) Chỉ tiêu đáp ứng thời gian toàn trình (Ktt) là tỷ lệ (tính theo %) bưu gửi có thời gian chuyển phát toàn trình đáp ứng được chỉ tiêu thời gian theo qui định.
Mục tiêu xác định tỷ lệ bưu gửi đáp ứng chỉ tiêu thời gian toàn trình của các đơn vị, để đánh giá, phát hiện các đơn vị không đáp ứng được chỉ tiêu theo quy định, từ đó tập trung tìm hiểu, xác định nguyên nhân phục vụ công tác cải tiến, nâng cao chất lượng. b) Chỉ tiêu đáp ứng thời gian thu gom, khai thác bưu gửi chiều đi (Ktk) Chỉ tiêu đáp ứng thời gian công đoạn thu gom, khai thác bưu gửi chiều đi tại (Ktk) là tỷ lệ bưu gửi (tính theo %) gửi có khoản thời gian từ khi chấp nhận cho đến khi đóng chuyến thư giao cho vận chuyển cấp I đáp ứng được thời gian qui định. Mục tiêu xác định tỷ lệ bưu gửi đáp ứng được thời gian công đoạn từ khi chấp nhận đến khi khai thác xong và ra khỏi để đánh giá công tác thu gom, khai thác có được thực hiện kịp thời. c) Chỉ tiêu đáp ứng thời gian công đoạn thu gom bưu gửi chiều đi (Ktg) Chỉ tiêu đáp ứng thời gian thu gom (Ktg) là tỷ lệ (tính theo %) bưu gửi có khoảng thời gian từ khi chấp nhận cho đến khi giao cho Bưu cục khai thác trung tâm tỉnh đáp ứng được thời gian qui định.
Mục tiêu xác định tỷ lệ bưu gửi được thu gom đúng quy định, qua đó đánh giá công tác thu gom tại các đơn vị có được thực hiện kịp thời. d) Chỉ tiêu đáp ứng thời gian công đoạn khai thác, chuyển phát bưu gửi chiều đến tại Bưu điện tỉnh, thành phố (Kkp) Chỉ tiêu đáp ứng thời gian công đoạn khai thác, chuyển phát bưu gửi chiều đến (Kkp) là tỷ lệ (tính theo %) bưu gửi có khoảng thời gian từ khi Bưu cục Khai thác trung tâm tỉnh, thành phố nhận được chuyến thư từ đường thư cấp I cho đến khi phát đến người nhận lần đầu và đáp ứng được thời gian qui định. Mục tiêu xác định tỷ lệ bưu gửi đáp ứng được thời gian công đoạn từ khi bưu gửi đến Bưu điện tỉnh, cho đến khi phát lần đầu đến khách hàng, để đánh giá Bưu điện tỉnh, có thực hiện khai thác, chuyển phát kịp thời bưu gửi chiều đến. e) Chỉ tiêu đáp ứng thời gian công đoạn khai thác bưu gửi chiều đến tại Bưu cục khai thác trung tâm tỉnh (Kktd) Chỉ tiêu đáp ứng thời gian công đoạn khai thác bưu gửi chiều đến tại Bưu cục khai thác trung tâm tỉnh (Kktd) là tỷ lệ tính theo %) bưu gửi có khoảng thời gian từ khi Bưu 8 cục khai thác trung tâm tỉnh, nhận chuyển thư đến từ đường thư cấp I cho đến khi đóng chuyến thư cho bưu cục phát đáp ứng được thời gian qui định.
Mục tiêu xác định tỷ lệ bưu gửi đáp ứng thời gian công đoạn khai thác từ khi bưu gửi đến Bưu cục khai thác trung tâm tỉnh, cho đến khi khai thác xong và đóng chuyến thư cho bưu cục phát qua đó đánh giá Bưu điện có tổ chức khai thác kịp thời bưu gửi chiều đến.