CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1.1 Tổng quan về chất lượng dịch vụ 1.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Khái niệm dịch vụ Do tính đa dạng, phức tạp của dịch vụ mà cho tới hiện tại các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất về loại hình hoạt động này. Luật Giá 2013 quy định “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”. Philip Kotler (1987) định nghĩa dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên còn lại, về cơ bản là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.
Qua các khái niệm nêu trên có thể hiểu dịch vụ là một dạng hàng hóa vô hình được một bên cung cấp cho bên còn lại, trong đó quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau và không được vật thể hóa thành vật chất và dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Trong đề tài này chăm sóc khách hàng được xem như là một dịch vụ. Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ có cấu trúc phức tạp, được xác định bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài của tổ chức.
Theo Parasuraman Zeithaml và cộng sự (1985) chất lượng dịch vụ là cảm nhận của khách hàng về dịch vụ ngang xứng với kỳ vọng của họ, kỳ vọng này là những mong muốn của khách hàng, nghĩa là họ cảm thấy nhà cung cấp phải thực hiện chứ không phải sẽ thực hiện các yêu cầu về dịch vụ. 8 Theo Hurbert (1995), trước khi sử dụng một dịch vụ khách hàng đã hình thành nên một kịch bản về chất lượng dịch vụ đó. Khi kịch bản của khách hàng và nhà cung cấp không giống nhau. Khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng.
Crolin và cộng sự (1992) cho rằng, sự hài lòng của khách hàng nên đánh giá trong một thời gian ngắn, còn chất lượng dịch vụ nên đánh giá theo thái độ của khách hàng về dịch vụ đó trong khoảng thời gian dài. Tóm lại có thể hiểu chất lượng dịch vụ là sự đánh giá toàn diện về thái độ hướng tới sự xuất sắc của dịch vụ, thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đạt đến mức độ có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng, tất cả các thuộc tính chất lượng dịch vụ liên quan đến sự hài lòng của khách hàng, cải thiện chất lượng dịch vụ là quá trình làm cho khách hàng hài lòng.2 Tại sao phải nâng cao chất lượng dịch vụ Nếu như trước kia, giá cả được coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó đã phải nhường chỗ cho chi tiêu chất lượng dịch vụ và sản phẩm, nhất là khi đời sống ngày càng được nâng cao. Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá là “biện pháp nghèo nàn” nhất vì nó làm giảm lợi nhuận thu được, mà ngược lại, cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm và dịch vụ nào tốt, đáp ứng được yêu cầu thì người tiêu dùng cũng sẵn sàng mua với mức giá cao hơn một chút cũng không sao, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đang trong giai đoạn phát triển mạnh, đời sống của nhân được nâng cao lên rất nhiều so với trước thì chất lượng sản phẩm và dịch vụ phải đưa lên hàng đầu. Chât lượng sản phẩm và dịch vụ là vấn đề sống còn đối với một doanh nghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp tư nhân khi mà họ đang phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh khác.
Một khi chất lượng sản phẩm và dịch vụ không được đảm bảo thì cũng có nghĩa là doanh nghiệp sẽ bị mất khách hàng và nhanh chóng đi tới chỗ suy yếu và bị phá sản.3 Các thành phần của chất lượng dịch vụ Thành phần của chất lượng dịch vụ bao gồm nhiều yếu tố, đối với từng loại hình dịch vụ khác nhau thì những yếu tố này cũng khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đề xuất rất nhiều mô hình nghiên cứu nhằm xác định các thành phần của chất lượng dịch vụ, đồng thời đo lường sự tác động của các thành phần này như: Gronroos và cộng sự (1984, 1990) Parasuraman (1985, 1988), Cronin và Taylor (1992). Tuy nhiên cho tới nay mô hình được chấp nhận và áp dụng nhiều nhất là mô hình SERVQUAL của Parasuraman (1985). Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ Parasuraman (1985) Parasuraman (1985) đã đề xuất mô hình đo lường chất lượng dịch vụ gồm 5 khoảng cách.1: Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ của Parasuraman (1985) (Nguồn: Parasuraman và công sự, 1985). Mô hình đo chất lượng dịch vụ được xây dựng dựa trên phân tích các khoảng cách chất lượng dịch vụ: 10 Khoảng cách 1: Khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng và kỳ vọng của khách hàng.
Khoảng cách 2: Khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng và các tiêu chí về chất lượng dịch vụ. Khoảng cách 3: Khoảng cách giữa các tiêu chí về chất lượng dịch vụ và dịch vụ được cung cấp cho khách hàng. Khoảng cách 4: Khoảng cách giữa dịch vụ được cung cấp cho khách hàng và chất lượng dịch vụ đã thông tin đến khách hàng. Khoảng cách 5: Khoảng cách giữa dịch vụ khách hàng nhận được và kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ.
Theo Parasuraman (1985) chất lượng dịch vụ mà khách hàng cảm nhận là khoảng cách 5, khoảng cách này thay đổi phụ thuộc vào sự thay đổi của các khoảng cách 1,2,3,4. Để cải thiện chất lượng dịch vụ cần cung cấp dịch vụ giống với kỳ vọng về dịch vụ của khách hàng, khi dịch vụ nhận được giống với những kỳ vọng của khách hàng thì khoảng cách 5 bằng 0 và chất lượng dịch vụ là tốt nhất. Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVQUAL Thang đo SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận khách hàng sử dụng dịch vụ. Parasuraman (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng bởi 10 thành phần, đó là: Gạch đầu dòng nhiều quá Tin cậy: là khả năng thực hiện dịch vụ đúng cam kết và đúng hạn.
Đáp ứng: là sự sẵn sàng của nhân viên cung cấp các dịch vụ cho khách hàng. Năng lực phục vụ: là trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ. Tiếp cận: là sự thuận lợi cho khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ. Lịch sự: là sự tôn trọng và thân thiện với khách hàng của nhân viên.
Thông tin: là việc giao tiếp, truyền đạt thông tin, giải thích cho khách hàng. Tín nhiệm: là sự tin tưởng của khách hàng đối với bên cung cấp dịch vụ. 11 An toàn: là sự bảo đảm sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật thông tin cho khách hàng. Hiểu biết khách hàng: là khả năng hiểu biết, nắm bắt nhu cầu của khách hàng.
Phương tiện hữu hình: là ngoại hình, trang phục của nhân viên, trang thiết bị hỗ trợ cho dịch vụ. Đến năm 1988 thang đo này được rút bớt từ 10 đặc tính chất lượng dịch vụ thành 5 đặc tính chất lượng dịch vụ là: Tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, đồng cảm, phương tiện hữu hình. Trong đó: Tin cậy: là khả năng thực hiện đúng những gì đã hứa, hoặc những gì khách hàng kỳ vọng vào dịch vụ thông qua những hoạt động động truyền thông của doanh nghiệp. Đáp ứng: là sự sẵn sàng, khả năng đáp ứng đủ nhanh và linh hoạt của nhân viên khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Năng lực phục vụ: là kiến thức, kỹ năng, chuyên môn của nhân viên được thể hiện trong quá trình cung cấp dịch vụ. Đồng cảm: là sự quan tâm và dịch vụ dành cho từng khách hàng. Phương tiện hữu hình: là cơ sở vật chất, thiết bị và phương tiện hỗ trợ dịch vụ. Tin cậy Đáp ứng Năng lực phục vụ Chất lượng dịch vụ Đồng cảm Phương tiện hữu hình Hình 1.
Thang đo SERVQUAL năm 1988 (Nguồn: Parasuraman và cộng sự, 1988) 12 Gronroos (1984, 1990) đã đưa ra mô hình chất lượng dịch vụ nghiên cứu cảm nhận của khách hàng dựa trên ba tiêu chí cơ bản: chất lượng kỹ thuật (dịch vụ được cung cấp là gì, và những gì được sử dụng để phục vụ cho hoạt động cung cấp dịch vụ như: Hệ thống máy tính, giải pháp kỹ thuật, công nghệ); chất lượng chức năng (là dịch vụ được cung cấp như thế nào, thái độ, hành vi phục vụ của nhân viên đối với khách hàng); hình ảnh được xây dựng chủ yếu dựa trên chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.2 Lý thuyết về chất lượng dịch vụ Cronin và Taylor (1992) đã đề xuất mô hình SEVRPERF để đánh giá chất lượng dịch vụ và khẳng định mô hình này tốt hơn mô hình SEVRQUAL của Parasuraman, mô hình SERVPERF dựa trên cơ sở của mô hình SERVQUAL, chỉ loại bỏ các thành phần đo lường giá trị kỳ vọng của khách hàng. Tuy nhiên, điều này còn nhiều tranh cãi do kết quả có thể khác nhau khi sử dụng các bối cảnh nghiên cứu khác nhau để nghiên cứu.1 Các khái niệm Khách hàng là đối tượng được đặc biệt quan tâm trong các hoạt động nghiên cứu khoa học về lĩnh vực quản trị, cho tới nay chưa có một quan điểm thống nhất về khái niệm khách hàng. Trên quan điểm quản trị marketing, Kotler (2008) cho rằng khách hàng là những đối tượng có nhu cầu và khả năng thanh toán để sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ, trên quan điểm quản trị học, Amit Malik (2015) thì cho rằng khách hàng là những đối tượng thừa hưởng các đặc tính, chất lượng của sản phẩm, dịch vụ và trả chi phí cho các sản phẩm, dịch vụ đó. Trên quan điểm quản trị nguồn vốn, Tom Peters (1987) cho rằng, khách hàng là tài sản làm tăng thêm giá trị và là tài sản quan trọng nhất mặc dù không được ghi nhận trong báo cáo của doanh nghiệp.
Qua những khái niệm trên có thể hiểu khách hàng là những đối tượng có nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ đồng thời có khả năng thanh toán các chi phí phát sinh cho việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ này, khách hàng là một tài sản quan trọng làm tăng giá trị và là nền tảng quan trọng cho sự phát triển của doanh nghiệp.