CHƯƠNG 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA MARKETING VÀ CHẤT LƯỢNG CÁC DỊCH v ụ NGÂN HÀNG TRONG NEN KINH TÊ THỊ TRƯỜNG 1 .1 - Các tư tưởng CƯ bản của quản trị Marketing đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tê thị trường. Marketing - công cụ kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường. Hiện nay Marketing được các nhà kinh tế Việt nam nói đến thường xuyên, nó được hiểu như một công cụ quản lý đặc hiệu cán thiết cho các nhà doanh nghiệp khi hoạt động trong một nền kinh tế thị trường. Hoạt động trong một nền kinh tế thị trường, không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh doanh lại không tự răn mình phải gắn kinh doanh của mình với thị trường mới hy vọng tồn tại và phát triển được.
Thị trường là tập hợp những người mua hàng hiện có và sẽ có. Doanh nghiệp la một chu thê kinh doanh, một cơ thể sống của đời sống kinh tê. Cơ thể đó cần có sự trao đổi chất với môi trường bên ngoài. Quá tnnh tiao đổi chât càng diên ra thường xuyên liên tục với quy mô càng ló'n thì cơ thể đó càng khoẻ mạnh.
Ngược lại, sự trao đổi chất diễn ra yếu ớt thì cơ thể đó quặt quẹo và chết yểu. Một doanh nghiệp muốn tồn tại thì dứt khoát phải có các hoạt dộng chức năng như sản xuất, tài chính.Nhưng trong nền kinh tế thị trường các chức năng này chưa đủ đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và lại càng không có gì đảm bảo chắc chắn cho sự thành đạt của doanh nghiệp nếu tách rời I1Ó khỏi một chức năng khác - chức năng kết nối mọi hoạt động của doanh nghiệp với thị trường - chức năng quản lý Marketing. Thật vậy, m ột doanh nghiệp có thể cho rằng, cứ tạp trung mọi cố gắng của mình để sản xuất ra thật nhiều sản phẩm, vói hình thức dẹp và chất lượng cao, là chắc chắn sẽ thu được nhiều tiền từ phía người tiêu dùng. Điêu đo tiên thực tê chăng có gì là đảm bảo.
Bởi vì đằng sau phương châm 4 hành động đó còn ẩn náu hai trở ngại lớn, hai câu hỏi lớn mà nếu không trả lời được nó thì mọi cố gắng của doanh nghiệp cũng chỉ là con số không. Một là liệu thị trường có cần hết - mua hết số sản phẩm đó không? Hai là, liệu cái giá mà doanh nghiệp định bán người tiêu dùng có đủ tiền để mua hay không ? Kết cục là mối liên hệ giữa doanh nghiệp với thị trường chưa có gì đảm bảo. Việc bỏ vốn vào kinh doanh của dơanh nghiệp vẫn chứa đầy những mạo hiểm và rủi ro. Trái với cách thức kinh doanh trên, Marketing hướng các nhà quản trị doanh nghiệp vào việc trả lời hai câu hỏi trên, trước khi dạy họ phải lựa chọn phương châm hành động nào.
Điều đó có nghĩa là Marketing đặt cơ sở kết nối, cách thức và phạm vi kết nối hoạt dộng sản xuất của doanh nghiệp với thị trường ngay từ trước khi doanh nghiệp bắt tay Vcào sản xuất một sản phẩm cụ thể. Vì vây Marketing được hiểu là chức năng quản lý công ty về tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh có liên quan đến việc phát hiện ra nhu cầu của người tiêu dùng và biến đổi nhu cầu đó thành sức mua thực sự về một mặt hàng cụ thể của công ty, đến việc đưa hàng hoá đó đến người tiêu thụ cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận cao nhất. Như vậy về bản chất Marketing là nhũng hoạt động của doanh nghiệp nhằm hướng vào thoả mãn các nhu cầu và ước muốn của thị trường thông qua quá trình trao đổi. Rõ ràng Marketing đã kết nối các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm báo cho hoạt dộng kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường - nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh.
Marketing phản ánh một chức năng cơ bản của kinh doanh, giống như chức năng sản xuất, tài chính, quản trị nhân lực, kế toán, cung ứng vật tư. Những chức năng này đều là những bộ phận tất yếu về mặt tổ chức của một doanh nghiệp. Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động Marketing là tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp giống như sản xuất tạo ra sản phẩm. 5 Từ đó xét về yếu tố cấu thành của nội dung quản lý doanh nghiệp thì Marketing là một chức năng có mối liên hệ thống nhất hữu cơ với các chức năng khác.
Như vậy, xét về quan hệ chức năng thì Marketing vừa chi phối, vừa bị chi phối bởi các chức năng khác. Nói một cách khác khi xác định chiến lược Marketing, dề ra các mục tiêu chiến lược, chẳng hạn như công ty quyết định vươn lên vị trí dẫn đầu về chất lượng một loại sản phẩm nào đó, để thu hút những khách hàng có thu nhập cao, dể tránh ảo tưởng, công ty buộc phải cân nhắc xem khả năng vốn liếng như thế nào, công nghệ và kỹ thuật ra sao, trình độ tay nghề của công nhân có đáp ứng được yêu cầu hay không? Nếu như tất cả hoặc thậm chí một mặt nào đó không thể đáp ứng được thì dù chức năng hoạt dộng Marketing có phát hiện ra một tập hợp khcách hàng hấp dẫn nào dó thì nó cũng trở nên vô nghĩa. Nhưng nói chung chức năng hoạt động Marketing của doanh nghiệp luôn chỉ cho doanh nghiệp biết rõ những nội dung cơ bản sau: • Khách hàng của doanh nghiệp là ai? Là khách hàng tổ chức hay người tiêu dùng cá nhân ? IIọ sống và mua hàng ở đâu? Họ là nam hay nữ, già hay trẻ? Họ mua bao nhiêu? Vì sao họ mua?. • Họ cần loại hàng hoá dịch vụ nào? Họ đòi hỏi hàng hoá dịch vụ đó phải có những dặc tính gì? Bao gói ra sao? Vì sao họ cần những dặc tính dó mà không phải là những đặc tính khác, những đặc tính hiện thời của hàng hoá dịch vụ còn thích hợp hay không? So với hàng hoá dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh, hàng hoá của công ty có những ưu thế và hạn chế gì? Có cần phải thay dổi hàng hoá dịch vụ không? Thay đổi yếu tố và đặc tính nào? Nếu thay đổi thì sẽ gặp những diều gì?.
• Giá hàng hoá dịch vụ của công ty nên quy định là bao nhiêu? Tại sao lại quy định mức giá như vậy mà không phải là mức giá khác? Mức giá trước dây còn thích hợp hay không? Nên tăng hay giảm giá và khi nào tăng khi nào giảm, tăng giảm bao nhiêu? Giảm giá, tăng giá ở đâu, với đối tượng nào?. 6 • Doanh nghiệp nên tự tổ chức lực lượng bán hàng hay dựa vào lực lượng khác? Nếu dựa và lực lượng khác (bán buôn, bán lẻ, đại lý.) thì cụ thể là ai? Dựa vào bao nhiêu người? Khi nào thì đưa hàng hoá vào thị trường và đưa bao nhiêu?. • Làm thế nào dể khách hàng biết, mua và yêu thích hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp? Tại sao dùng cách thức này mà không dùng cách thức khác? Ưu điểm và hạn chế của các phương thức quảng cáo/. • Hàng hoá của doanh nghiệp có cần dịch vụ sau khi bán hàng không? Loại dịch vụ nào doanh nghiệp có khả năng cung cấp nhất? Vì sao?.
Đó là những vấn đề mà ngoài chức năng Marketing ra không một hoạt động chức năng nào khác của công ty phải có trách nhiệm trả lời. Điều đó phản ánh tính chất độc lập của chức năng Marketing so với các chức năng quản lý khác của công ty và chỉ có chức năng Marketing thì mới giải quyết khách quan va thoả đáng những vấn dề nêu ra ử trên. Đương nhiên khi đề cập đến các nội dung trên nhà quản trị Marketing không thể thoát ly khỏi các khả năng tài chính, về sản xuất và công nghệ, về tay nghề của người lao động, khả năng cung ứng nguyên vật liệu. Tất cả các yếu tố này tạo ra môi trường vi mô của những quyết định Marketing đối với doanh nghiệp.
Mặc dù mục tiêu cơ bản của mọi công ty là thu lợi nhuận. Nhiệm vụ cơ bản của hệ thống quản trị Marketing là đảm bảo sản xuất và cung cấp những mặt hàng và dịch vụ hấp dẫn, có sức cạnh tranh cao cho các thị trường mục tiêu. Nhưng sự thành công của chiến lược và sách lược Marketing còn phụ thuộc vào sự vận hành của các chức năng khác trong công ty. Nhưng ngược lại, các hoạt động chức năng khác nếu không vì những mục tiêu của hoạt động Marketing , thông qua các chiến lược cụ thể hướng vào khách hàng - thị trường cụ thể thì những hoạt động đó sẽ trở nên mò mẫm và mất phương hướng.
7 Đó là mối quan hệ hai mặt vừa thể hiện tính thống nhất, vừa thể hiện tính độc lập giữa chức năng Marketing với các chức năng khác của một cồng ty hướng theo thị trường. Giữa chúng có mối liên hệ với nhau, nhưng hoàn toàn không thể thay thế cho nhau. Điều mà lâu nay nhiều nhà quản trị doanh nghiệp thường lầm lãn. Nhiều người thường lầm tưởng Marketing với việc bán hàng và các hoạt động kích thích tiêu thụ.
Vì vậy, Ỉ1Ọ quan niệm Marketing chẳng qua là hệ thống các biện pháp mà người bán hàng sử dụng dể cốt sao bán dược hàng và thu‘được tiền về cho người bán. Thực ra tiêu thụ chỉ là một trong những khâu hoạt động Marketing của doanh nghiệp mà hơn thế nữa đó lại không phải là khâu quan trọng nhất. Một hàng hoá dịch vụ kém thích hợp vói dòi hỏi của người tiêu dùng, chất lượng kém, kiểu dáng kém hấp dẫn, giá cả dắt. thì dù người ta có tốn bao nhiêu công sức và tiền của để thuyết phục khách hàng thì cũng không thể tiêu thụ được.
Ngược lại nếu như nhà kinh doanh tìm hiểu kỹ nhu cầu của khách hàng, tạo ra những mặt hàng hoặc dịch vụ phù hợp với nó, quy định một mức giá thích hợp, có một phương thức phân phối hấp dẫn và kích thích tiêu thụ có hiệu quả thì chắc chắn việc bán những hàng hoá đó sẽ trở nên dễ dàng lum. VI vậy nghiên cứu để nhận dạng và hiểu biết nhu cầu của khách hàng trở thành vấn dề cốt lõi của hoạt dộng Marketing. Philip Kotler đã đưa ra định nghĩa Marketing: Marketing là một dạng hoạt dộng của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muôn của họ thông qua trao đổi. Thoả mãn nhu cầu và làm hài lòng khách hàng là tư tưởng cốt lối của Marketing.
Ý tưởng cội nguồn, cơ bản của Marketing là ý tưởng về những nhu cầu của con người.