CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1.1 Khái niệm của dịch vụ Với phát biểu của Theodore Levitt, “Không có sự việc nào giống như các ngành dịch vụ, chỉ có những ngành có thành phần dịch vụ lớn hơn hay nhỏ hơn so với của các ngành khác” (Phillip Kotler, Vũ Trọng Hùng dịch, 2003, trang 521) ta thấy được mức độ đa dạng của dịch vụ. Với sự đa dạng đó, kéo theo có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ. Dưới đây liệt kê một số khái niệm phổ biến về dịch vụ. Theo Bruhn & Georgi (2006) trích trong Kungaba (2010) thì dịch vụ là một quá trình với các đặc tính đi kèm như sau: ¾ Dịch vụ là sản phẩm được tạo ra đồng thời bởi khách hàng và nhà cung cấp ¾ Dịch vụ là vô hình ¾ Dịch vụ dễ bị thất bại ¾ Dịch vụ không thể chuyển giao ¾ Dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ cùng lúc ¾ Dịch vụ là không đồng nhất Theo TCVN ISO 8402:1999: “Dịch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp – khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp” (Tạ Thị Kiều An và cộng sự, 2010, trang 95).
Theo Gronroos (1983) trích trong Mohammad (2005) định nghĩa dịch vụ là một hoạt động hay chuỗi các hoạt động mang ít hoặc nhiều tính vô hình, nhưng không thực sự là cần thiết, nơi đó có sự tương tác giữa nhân viên phục vụ và khách hàng và/ hoặc nguồn vật chất, hàng hóa và/ hoặc hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ nhằm cung cấp giải pháp cho các vấn đề của khách hàng. Theo quan điểm của chuyên gia marketing Philip Kotler (Vũ Trọng Hùng dịch, 2003, trang 522): “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung 5 cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. Như vậy: dịch vụ có thể hiểu là những hoạt động tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng nhằm làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có bốn đặc điểm quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế các chương trình marketing như sau: tính vô hình, tính không tách rời được, tính không ổn định và tính không lưu trữ được (Philip Kotler, Vũ Trọng Hùng dịch, 2003).
Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó khăn trong việc định lượng và đo lường chất lượng của nó. Tính vô hình Các dịch vụ đều vô hình. Chúng ta không thể cầm, nắm, nghe hay nhìn thấy trước khi mua. Khách hàng chỉ nhận được sản phẩm dịch vụ ngay khi nó được cung cấp và vì thế, cần có những dấu hiệu hay bằng chứng vật chất về chất lượng dịch vụ như: con người, thông tin, địa điểm, thiết bị, biểu tượng, giá cả,… Vì vậy, nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ là “vận dụng những bằng chứng để làm cho cái vô hình trở thành hữu hình”.
Tính không tách rời được Đặc điểm này cho rằng quá trình cung cấp dịch vụ xảy ra liên tục, nghĩa là quá trình cung cấp và tiếp nhận dịch vụ tiến hành đồng thời, cùng một lúc với sự hiện diện của khách hàng trong suốt thời gian sản xuất. Do đó, chất lượng dịch vụ sẽ rất khó đoán trước mà sẽ dựa theo phán đoán chủ quan cao và dĩ nhiên, chúng ta không thể tích lũy, dự trữ dịch vụ cũng như không thể kiểm nghiệm trước. Tính không ổn định Với đặc tính không thể tích lũy, nên dịch vụ rất không ổn định trong môi trường mà nhu cầu luôn thay đổi. Tổ chức không thể dựa vào lần kiểm tra cuối cùng mà 6 đánh giá chất lượng dịch vụ mình cung cấp vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó.
Tính không lưu giữ được Chính vì vô hình nên dịch vụ được cho là rất mong manh, người cung cấp cũng như người tiếp nhận không thể lưu giữ lại, không thể đem tiêu thụ hay bán ra trong một thời gian sau đó. Bốn đặc điểm trên của dịch vụ tương tác đến hoạt động tiếp thị, cụ thể như bảng đề cập sau: Bảng 1.1: Đặc điểm của dịch vụ và các vấn đề trong tiếp thị Đặc điểm dịch vụ Các vấn đề trong tiếp thị Tính vô hình Dịch vụ không lưu trữ được Không dễ dàng nhìn thấy, chứng minh hay truyền đạt lại Khó khăn trong thiết lập và điều chỉnh quy trình Không có bảo hộ quyền sáng chế cho lĩnh vực dịch vụ Tính không lưu giữ được Dịch vụ không thể kiểm kê được Tính không ổn định Không tiêu chuẩn hóa được Khó khăn trong kiểm soát chất lượng Tính không tách rời được Tương tác giữa khách hàng với quá trình sản xuất dịch vụ, hệ thống cung cấp cùng môi trường dịch vụ Khách hàng có thể liên quan đến một phần trong sản phẩm, sản xuất, hay phân phối Không có sự phân biệt rõ ràng trong tiếp thị, quản lý nguồn nhân lực và quản lý điều hành Nguồn: Mohammad (2005) 7 1.3 Cấp độ của dịch vụ Tùy vào chiến lược phát triển của từng doanh nghiệp, quá trình cung cấp dịch vụ giữ mức độ quan trọng khác nhau, với cấp độ khác nhau. Theo phát triển của Own, cung cấp dịch vụ bao gồm ba cấp độ như sau: 1.1 Dịch vụ cốt lõi Đây là mục đích kinh doanh ban đầu của doanh nghiệp, là những khía cạnh quan trọng mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng. Nó liên quan đến lợi ích cơ bản của khách hàng, và cũng là lý do đầu tiên, chính yếu để khách hàng thực hiện giao dịch với doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh hiện nay, một dịch vụ cốt lõi có giá trị không đủ sức hút, nó cần có các dịch vụ thứ cấp đi kèm để giữ chân khách hàng. Dịch vụ Dịch vụ cốt lõi thứ cấp Dịch vụ vượt trội Hình 1.1: Ba cấp độ của dịch vụ Nguồn: Mohammad (2005) 1.2 Dịch vụ thứ cấp Dịch vụ thứ cấp là tùy ý, mang tính chất hỗ trợ dịch vụ cốt lõi. Số lượng và chất lượng của dịch vụ thứ cấp góp phần không nhỏ vào thành công trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Việc cung cấp riêng lẻ các dịch vụ thứ cấp là dễ dàng bắt chước, nên yếu tố cần lưu ý là sự kết hợp của các dịch vụ thứ cấp.
Chính sự kết hợp này mới tạo ra tính cạnh tranh cho bản thân doanh nghiệp.3 Dịch vụ vượt trội Đây là nhân tố quyết định trong cạnh tranh, nhân tố dịch vụ làm hài lòng khách hàng. Bằng cách tạo ra dịch vụ với chất lư ợng vượt hơn sự mong đợi của khách hàng, với những chuẩn mực riêng, khó để có thể bắt chước, tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.2 Chất lượng dịch vụ 1.1 Khái niệm Chất lượng dịch vụ là khác nhau đối với các loại hình dịch vụ khác nhau. Chính vì thế, có nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ, tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu tương ứng. Theo TCVN ISO 9000:2000: “Chất lượng dịch vụ là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu, mong đợi của khách hàng và các bên có liên quan”.
Theo Lưu Văn Nghiêm (2008): “Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất”. Theo Parasuraman & ctg (1998) (trích từ Nguyễn Đình Thọ và ctg, 2003) thì cho rằng “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách mong đợi về sản phẩm dịch vụ của khách hàng và nhận thức, cảm nhận của họ khi sử dụng qua sản phẩm dịch vụ đó”. Việc xác định được khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ mà họ đang sử dụng với cảm nhận thực tế mà họ đang hưởng thụ là mấu chốt của việc đo lường chất lượng dịch vụ.2 Đo lường chất lượng dịch vụ Mục đích của việc cung cấp dịch vụ đạt chất lượng là làm hài lòng khách hàng.
Để đánh giá dịch vụ được cung cấp là tốt hay xấu, đạt hay chưa đạt, liệu dịch vụ đó đã làm hài lòng khách hàng hay chưa thì cách tốt nhất là hãy đo lường chất lượng 9 dịch vụ đó. Chất lượng dịch vụ được đo lường bởi nhiều yếu tố khác nhau, tùy thuộc vào từng loại hình dịch vụ được cung cấp, cũng như từng môi trường riêng biệt. Với sự đa dạng vốn có đó, nó thu hút nhiều tác giả nghiên cứu khác nhau trong hơn hai thập kỷ qua. Nổi bật trong nhiều mô hình khác nhau đó, mô hình chất lượng chức năng và kỹ thuật (Gronroos 1984) cùng mô hình năm khoảng cách (Parasuraman 1985-1988) được nhiều tác giả ứng dụng kiểm định trong các loại hình dịch vụ.
Theo nghiên cứu tổng hợp của Nitin Seth và S.Deshmukh (2005), xem xét đến mười chín mô hình chất lượng dịch vụ phát triển trong giai đoạn từ năm 1984 đến năm 2003. Trong số đó có đến tám mô hình phát triển dựa trên nền mô hình năm khoảng cách, và sử dụng thang đo SERVQUAL để đo lường chất lượng dịch vụ (Brogowics et al (1990), Cronin và Taylor (1992), Teas (1993), Sweeney et al (1997), Dabholkar et al (2000), Frost and Kumar (2000), Soteriou and Stavrinides (2000), Zhu et al (2002)). Như vậy, có thể nói Parasuraman đã khơi dòng nghiên cứu về chất lượng dịch vụ và được nhiều nhà nghiên cứu cho là khá toàn diện (Svensson 2002). Các nhà nghiên cứu này định nghĩa chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ, cuối cùng cho ra thang đo năm thành phần SERVQUAL để đánh giá chất lượng dịch vụ.
Thang đo SERVQUAL được áp dụng đo lường chất lượng dịch vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau, một số nghiên cứu điển hình như sau (Kungaba,2010): • Dịch vụ bệnh viện (Bowers et al., 1994; Carman, 1990; Lam,1997) • Ngân hàng (Cronin và Taylor, 1992; Llosa et al., 1998; Parasuraman et al., 1988,1991b) • Hàng không (Fick và Ritchie, 1991; Young et al., 1994; Frost và Kumar, 2001) 10 • Khách sạn (Fick và Ritchie, 1991), nhà hàng (Fick và Ritchie, 1991) • Giáo dục (Oldfield và Baron, 2000; Kwan và Ng, 1999; Ekinci và Riley, 1999) • Dịch vụ công cộng (Wisniewski, 2001; Brysland và Curry, 2001; Carman, 1990; Orwig et al.