CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU HỘ THUẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý thuyết về thuế 1. Khái niệm về thuế Hiện nay có nhiều khái niệm về thuế và các vấn ñề liên quan ñến thuế, vì vậy tác giả thực hiện tìm hiểu một số khái niệm về thuế Theo Chris Whitehouse (2003, trang 5), thuế là một khoản thu bắt buộc. Thuế có thể do chính quyền trung ương trực tiếp thu hay ủy nhiệm cho các cơ quan ñịa phương thu.
Thông thường thì tiền thuế thu ñược phải ñược chi xài cho các mục tiêu công cộng và mục tiêu của thuế không chỉ là thu tiền cho NSNN mà nó cũng nhằm thực hiện công bằng xã hội hoặc khuyến khích phát triển kinh tế. Theo Dương Đăng Chinh và Phạm Văn Khoan (2005, trang 106), thuế là một hình thức ñộng viên bắt buộc của nhà nước theo luật ñịnh, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN ñể ñáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước và phục vụ lợi ích công cộng.” Tác giả Lê Văn Đệ (2008, trang 10), thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có ñủ các ñiều kiện nhất ñịnh. Tác giả ñồng tình với các khái niệm trên vì ñã ñưa ra một số nhận ñịnh tương tự nhau về thuế, ñó là: thuế có tính bắt buộc, thuế có thể thu trực tiếp hoặc uỷ nhiệm cho cơ quan khác thu, thuế ñược dùng thực hiện công bằng xã hội thông qua phân phối lại thu nhập trong nền kinh tế Vậy, thuế là số tiền mà người nộp thuế bắt buộc phải nộp vào NSNN theo quy ñịnh của Nhà nước. Nhà nước sử dụng tiền thuế này ñể chi tiêu cho các mục tiêu công cộng nhằm thực hiện công bằng xã hội hoặc khuyến khích phát triển kinh tế thông qua việc phân phối lại thu nhập.
Để từ ñây có thể thấy thuế thực sự giữ một 123doc 6 vai trò quan trọng trong một quốc gia vì ñây chính là nguồn chủ yếu ñể quốc gia ñó duy trì thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình ñối với xã hội. Từ khái niệm này có thể thấy thuế có một số vấn ñề sau: - Tính bắt buộc: việc nộp thuế ñược xem như là một nghĩa vụ ñối với Nhà nước. - Phương pháp nộp: việc nộp thuế có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như trực tiếp vào KBNN hoặc nộp gián tiếp dưới hình thức ủy nhiệm. - Mục tiêu: tiền nộp thuế chỉ ñược sử dụng nhằm thực hiện các chi tiêu công, các mục tiêu phát triển kinh tế hay nói cách khác là thực hiện các công bằng xã hội.
- Về tính chất: thuế thuộc phạm trù phân phối lại thu nhập, ñem lại sự công bằng xã hội. Điều này ñược thể hiện thông qua việc cung cấp các phúc lợi xã hội của Nhà nước. Phân loại thuế Trong các giáo trình liên quan ñến thuế hiện nay thì tuỳ theo mục ñích nghiên cứu các tác giả ñưa ra nhiều phân loại thuế khác nhau. Điển hình như tác giả Lê Văn Đệ (2008, trang 16) phân chia thuế theo: Tính chất: Thuế trực thu là thuế thu trực tiếp từ pháp nhân hoặc thể nhân; Thuế gián thu là thuế thu thuế một các gián tiếp thông qua ñối tượng khác như thuế V.T Đối tượng: Thuế ñánh vào các hoạt ñộng sản xuất kinh doanh; Thuế ñánh vào sản phẩm; vào thu nhập; vào tài sản; vào các tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
Ngoài ra, trên thực tế còn có thể phân loại thuế theo cơ quan thu như sau: - Thuế nội ñịa: là các loại thuế do cơ quan thu là Cục thuế quản lý gồm thuế trước bạ, thuế nhà ñất, thuế thu nhập. - Thuế hải quan: là các loại thuế, phí và lệ phí do cơ quan thu là Cục Hải quan quản lý gồm các loại thuế xuất nhập khẩu, phí lưu kho. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng tiêu chí này ñể phân tích thực trạng sự hài lòng của khách hàng nộp thuế ñối với dịch vụ thu hộ tại BIDV Đồng Nai, vì ñây cũng là cách phân loại các NHTM hiện nay ñang sử dụng. Những hình thức nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước Theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc.
thì việc thu thuế có thể ñược thực hiện thông qua các NHTM ñiển hình như tại các ngân hàng thương mại ICICI, GUIZHOU, BARODA. Các ngân hàng thương mại này ñã sử dụng lợi thế mạng lưới các chi nhánh rộng của mình ñể thực hiện việc thu thuế và sau ñó chuyển số thuế thu hộ ñược cho Kho bạc Nhà nước. Qua việc các NHTM ở các nước trên thế tới thực hiện việc thu hộ thuế ñã cho thấy việc nộp thuế vào NSNN có thể thực hiện bằng hình thức nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước hoặc nộp gián tiếp bằng cách thông qua các cơ quan ñược Kho bạc Nhà nước uỷ quyền thu hộ. Thông qua việc ñược Kho bạc Nhà nước uỷ quyền, các NHTM sẽ tiến hành các biện pháp triển khai dịch vụ thu hộ thuế nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ này.
Tuy Kho bạc Nhà nước uỷ quyền cho NHTM thu hộ thuế nhưng vấn ñề quản lý số tiền nộp thuế vẫn do Kho bạc Nhà nước quản lý và các NHTM có thể căn cứ vào số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của Kho bạc Nhà nước ñể cải thiện tính thanh khoản của ngân hàng mình.2 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ ngân hàng và dịch vụ thu hộ thuế qua Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại “Tại Hoa Kỳ: NHTM là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ về tài chính như nhận tiền gửi, chuyển tiền, thanh toán, cho vay, ñầu tư, ñổi tiền, mua bán ngọai hối và các dịch vụ khác liên quan ñến tiền như bảo quản, ủy thác, làm ñại lý trong nước và quốc tế. NHTM là tổ chức ñược thành lập theo quy ñịnh của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với họat ñộng thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này ñể cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho 123doc 8 các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự, 2012, trang 6). Trong các khái niệm trên ñã cho thấy một trong những họat ñộng thường xuyên của NHTM ñó chính là cung cấp dịch vụ thanh tóan cho các chủ thể trong nền kinh tế.
Đây chính là việc các NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh tóan của mình thông qua việc khách hàng mở khoản tiền gửi thanh toán tại NHTM 1. Khái niệm về dịch vụ của Ngân hàng thương mại Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong lĩnh vực marketing và kinh doanh. Theo Zeithaml & Bitner (2000, trang 109), dịch vụ là những cách thức, hành vi và quá trình thực hiện một công việc nào ñó nhằm làm thoả mãn nhu cầu và mong ñợi của khách hàng. Vậy dịch vụ của ngân hàng thương mại chính là những cách thức, hành vi và quá trình mà NHTM cung cấp nhằm làm thỏa mãn nhu cầu và mong ñợi của khách hàng.
Theo Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2012) thì NHTM cung cấp nhiều nghiệp vụ trung gian như dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thanh tóan, dịch vụ giữ hộ tài sản, dịch vụ tư vấn tài chính. Khi NHTM cung cấp các dịch vụ cho khách hàng thì NHTM giữ vai trò là một ñơn vị trung gian làm thay khách hàng ñể ñược hưởng hoa hồng, phí dịch vụ hoặc một lợi ích gì khác.2 Khái niệm về dịch vụ thu hộ thuế qua Ngân hàng thương mại Như phần trên, tác giả ñã giới thiệu một trong những dịch vụ mà NHTM cung cấp cho khách hàng có dịch vụ thu hộ. Theo Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2012, trang 311), dịch vụ thu hộ là một dịch vụ, theo yêu cầu của khách hàng, NHTM sẽ thay mặt khách hàng thực hiện việc thu tiền các khỏan thu của khách hàng phát sinh khi bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ và ghi Có vào tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng. Xét trong quan hệ giao dịch với NHTM thì có nhiều loại khách hàng và mỗi khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ khác nhau.
Trong phạm vi nghiên cứu của ñề tài này là phân khúc khách hàng sử dụng dịch vụ thu hộ thuế tại NHTM. 123doc 9 Theo khái niệm về thuế mà tác giả ñã nêu ở phần trên thì có thể hiểu số tiền nộp thuế sẽ ñược nộp vào NSNN, mà hiện nay ña số các nước trên thế giới thì NSNN ñược quản lý bởi Kho bạc Nhà nước. Vậy có thể ñưa ra khái niệm về dịch vụ thu hộ thuế là một dịch vụ, theo yêu cầu của khách hàng là KBNN, NHTM sẽ thay mặt KBNN thực hiện các khoản thu của Nhà nước phát sinh khi người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ của mình, và ghi CÓ vào tài khoản tiền gửi thanh toán của KBNN. Khi NHTM cung cấp dịch vụ thu hộ thuế thì NHTM cũng sẽ ñược hưởng phí dịch vụ hoặc một lợi ích khác từ việc cung cấp dịch vụ như cải thiện khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia dịch vụ thu hộ thuế qua Ngân hàng thương mại Khi cung cấp dịch vụ thu hộ thuế, Ngân hàng thương mại thực hiện một trong những chức năng truyền thống của mình là trung gian thanh toán giữa khách hàng nộp thuế và KBNN : Cơ quan thu Ngân hàng thương mại K/hàng nộp thuế (có ký thỏa thuận phối Kho bạc Nhà nước hợp thu) Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia dịch vụ thu hộ thuế qua NHTM Đối với dịch vụ thu hộ thuế tại NHTM thì có 03 chủ thể tham gia bao gồm: Kho bạc Nhà nước: với nhiệm vụ chính là quản lý qũy Ngân sách Nhà nước. Trong mối quan hệ này thì KBNN chính là khách hàng của NHTM, bằng cách yêu cầu NHTM thu hộ thuế cho mình. Chính vì thế, KBNN có trách nhiệm ñối chiếu, hạch toán các khỏan thu thuế ñầy ñủ, chính xác kịp thời mà NHTM thu hộ vào quỹ 123doc 10 NSNN; ñồng thời thông báo số phát sinh thu thuế kịp thời cho các cơ quan thu có liên quan và thực hiện ñối chiếu theo quy ñịnh. Ngân hàng thương mại ở ñây là các NHTM ñã ký kết thoả thuận phối hợp thu thuế với KBNN, cơ quan quản lý thu.